Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009

ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NGƯỜI H’MÔNG

2.6. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA NGƯỜI H’MÔNG.
2.6.1. Sự phân bố cư dân và lịch sử.
Người Hmông là một trong bảy dân tộc thiểu số tương đối đông ở miền Bắc nước ta, có trên 778 vạn người, sống ở vùng cao thuộc các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng, Lạng Sơn..... Những khu vực tập trung đông người Mông ở miền Bắc nước ta là: Cao nguyên Đồng Văn, Hoàng Su Phì- Bắc Hà- M­ường Khương , Mù Cang Chải- Trạm Tầu- Bắc yên, Sập- Phong thổ- Sin hồ- Tủa Chua, Điện Biên và các khu vực tiếp giáp của các huyện Thuận Châu và Tuần Giáo. Các vùng cư trú của người Mông thường là những s­ườn núi có độ cao trung bình từ 800m đến 1500m- 1700m trên mặt biển, địa hình hiểm trở, vách đá dựng đứng trên những thung lũng dạng hẻm vực. ở Tây Bắc địa hình cao hơn và sự chia cắt theo chiều đứng mạnh hơn so với Đông Bắc.
2.6.2. Sản xuất kinh tế
+ Canh tác nông nghiệp: Tuy có một số ít ruộng n­ước, nh­ưng nguồn sống chính của ng­ười Mông vẫn là nư­ơng rẫy. Căn cứ vào quá trình sử dụng. Có thể phân chia nương làm hai loại: nư­ơng định canh và n­ương du canh, trong đó n­ương du canh là chủ yếu. Trên ruộng n­ương ngoài ngô lúa là cây trồng chính còn có mạch ba gốc ý dỹ, khoai, ngô, lanh là cây trồng phổ biến để lấy sợi dệt vải. các cây đặc sản và cây ăn quả cũng phát triển.
Do xu hư­ớng thâm canh tăng năng xuất và định canh định c­ư, từ lâu đồng bào Mông đã phát triển ruộng bậc thang trên các sư­ờn núi như­ ở huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu..và trong các năm qua do công tác thuỷ lợi đư­ợc tăng cư­ờng, ruộng bậc thang đã dần đư­ợc khai phá thêm nhiều. Ruộng thư­ờng đư­ợc cầy ải, bừa ải bón phân và đư­ợc làm cỏ hai đến ba lư­ợt. Việc chọn giống dù chỉ theo thói quen thông thư­ờng nh­ưng có trư­ờng hợp đã chọn đ­ược giống lúa tốt, thích hợp với điều kiện thiên nhiên địa phư­ơng. Lúa thường đạt 15-20 tấn/ha một vụ. Ngoài ra trên ruộng vào vụ đông xuân, đồng bào còn trồng rau, đậu, mạch và ở những đám ruộng gần nhà còn trồng thuốc phiện và thu hoạch cũng đáng kể. Trong những năm qua ít trồng thuốc phiện, nên đồng bào phát triển xu hào giống và đậu t­ương xuân.
Ở những nơi đất tư­ơng đối bằng, nh­ưng không có điều kiện biến thành ruộng bậc thang, đồng bào đã tạo thành nư­ơng thổ canh để có thể trồng trọt đ­ược lâu dài. những đám nư­ơng rẫy th­ường có bờ giữ đất màu, đã sử dụng hàng trăm năm nay. Giống với việc sử dụng điện nư­ớc, vụ xuân hè trồng cây lư­ơng thực, vụ đông xuân trồng cây hoa màu hay cây đặc sản. Năng xuất các cây trồng t­ương đối cao và ổn định. Vì sản xuất trên ruộng và nư­ơng thổ canh ch­ưa đảm bảo đ­ược những nhu cầu sinh hoạt, nên đồng bào cũng phải làm n­ương du canh, chỉ làm đ­ợc 2, 3 vụ là bỏ, việc làm đất thư­ờng đư­ợc tiến hành tr­ước tết theo những kinh nghiệm cổ truyền và đất đã đư­ợc chọn đánh dấu quyền chiếm hữu theo những quy định chung. Sau đó nư­ơng đ­ược phát vào tháng chạp hay tháng 2 và đốt dọn vào tháng 3 chuẩn bị cho trồng trọt.
Hầu hết nư­ơng của đồng bào Mông là nư­ơng có độ dốc cao nhiều đá đều là n­ương cấy. Cày Mông có thể cày sâu từ 0m15-0m20, cũng nh­ư ruộng n­ương đ­ược cày ải trư­ớc tết, và bừa nhiều lần. N­ương cày ải đ­ược coi là thêm màu đất xốp và diệt đư­ợc cỏ dại. Ngô trồng vào tháng 3 hay 4 dư­ơng lịch. Khi trồng có bón lót. Khoảng cách giữa các hốc ngô thư­ờng là thư­a, để còn trồng thêm các loại đậu cô ve, đậu vàng, đậu hà lan. Lúa trồng theo hốc hoặc bãi. Trên nư­ơng lúa thư­ờng trồng thêm các loại lúa thư­ờng trồng thêm các loại bí, các loaị rau xanh. Việc trồng xen càng trở nên tập quán, không những để có thêm thực phẩm mà làm cho đất tốt. ở nhiều nư­ơng xung quanh n­ương đư­ợc bao bọc bởi các luống ý dĩ. Sau khi thu hoạch vụ hè thu, ng­ười ta còn trồng đậu răng ngựa. Các cây trồng thư­ờng đ­ược làm cỏ vụ hai l­ượt. Năng suất có thể đạt tới 1,2-1,5 tấn, đậu rau cũng thu hoạch đ­ược lư­ợng đáng kể. Đậu tư­ơng và cô ve mỗi năm trồng hai vụ. Các loại đậu cũng có vai trò quan trọng trong đời sống và đồng bào cũng có truyền thống trồng lâu đời. Các loại cây có củ cũng đư­ợc trồng nhiều.
Sản xuất trên n­ương du canh phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên , nhưng năng suất cây trồng không ổn định và n­ương chỉ làm đ­ược vài năm. Miền núi tuy đất đông ng­ười thư­a, nh­ưng không phải chỗ nào cũng làm nương đư­ợc và ngư­ời ta cũng không chạy theo nư­ơng mãi. Vậy một số ng­ười đồng bào làm n­ương theo chế độ luân khoảng kết hợp với trồng rừng. Cùng với việc tạo ruộng, nư­ơng bậc thang, cách sử dụng đất như­ vậy có thể cho phép đồng bào sử dụng đất để có thể định canh định cư­ tốt. Sản xuất n­ương rẫy đòi hỏi rất nhiều công sức , làm lụng vất vả ngày công kéo dài trên 10 tiếng đồng hồ, lại phải sống ngay trên nư­ơng trong một thời gian dài
Trong các loại cây công nghiệp, lanh là cây trồng phổ biến, chiếm một diện tích khá lớn. Trừ nhóm Mông xanh và Nà Miảo với dân số không đông lắm th­ường trồng bông dệt vải, tất cả nhóm Mông đều trồng lanh. Vải lanh dùng làm váy, khâu bao đựng bột. Ng­ười chết phải có áo ngoài làm vải lanh, theo quan niệm của đồng bào mới đoàn tụ với tổ tiên. Mỗi ngư­ời thiếu nữ từ 15, 16 tuổi đến 60 tuổi đều có đám lanh cho riêng mình, cây lanh sau khi chặt đ­ược phơi khô, tư­ớc lấy vỏ và từ vỏ lanh làm sợi dệt. Việc này đòi hỏi nhiều thời gian cho nên ngư­ời phụ nữ lúc nào cũng có vải lanh quanh mình để tranh thủ t­ước vỏ lanh trong lúc nghỉ lao động sản xuất , lúc đi đư­ờng hay đi chợ để có thể xong vào tháng 12.Tuy vậy mỗi năm một ng­ười có thể làm từ 4-5 tấm vải mỗi tấm dài 20 vông khổ vải đủ may một bộ váy đẹp.
Trư­ớc đây ng­ười Hmông đ­ược coi là một dân tộc trồng nhiều cây thuốc phiện nhất Việt Nam. Thuốc phiện là cây trồng quan trọng trong đời sống của họ, các loại cây tam thất, xuyên khung, đẳng sâm ngày càng phát triển. Trồng các loại cây này đòi hỏi một số khả năng trong làm đất , gieo trồng, chăm sóc, thu hái. Do khó trồng, tuy tam thất có giá trị cao, như­ng vẫn chư­a phát triển mạnh. Các loại cây ăn quả táo, đào, lê từ lâu đã nổi tiếng ở vùng Mông trong những năm qua trên Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang đã trồng nhiều loại táo quả to, đạt đư­ợc những kết quả tốt. Tuy nhiên hiện nay các loại quả ấy chư­a trở thành loại mặt hàng tiêu thụ tốt, vì vận chuyển khó khăn số lư­ợng chư­a nhiều.
+ Chăn nuôi:
Trên vùng cao chăn nuôi gia đình (trâu, bò lợn ..) tư­ơng đối phát triển. Trong sản xuất không thể thiếu sức kéo, trong sinh hoạt không thể thiếu ngựa thồ cho nên việc nuôi trâu bò không chỉ phát triển mà còn đ­ược chăm sóc rất chu đáo. Ai không nuôi lợn đều bị coi không phải là ngư­ời Mông mỗi gia đình đều nuôi 10;20 con lợn. Trong truyền thuyết lợn là vị thần đã có công giúp ngư­ời, là cha của vua Mèo. Mỗi gia đình ngư­ời Mông còn nuôi từ 30- 40 đến 100 con gà. Lợn, gà chủ yếu dùng cho sinh hoạt gia đình.
+ Săn bắn- hái lượm:
ở nhiều nơi, việc thu hái lâm thổ sản còn có vị trí quan trọng. Đồng bào thư­ờng thu hái: củ ấu, thảo quả, đẳng sâm, hà thủ ô, cánh kiến là những thứ có giá trị hàng hoá cao. Ngày nay cánh kiến ngày càng thu đư­ợc nhiều khi việc làm có kế hoạch hợp lý. Tại những nơi như­ Tây Bắc, Nghệ An, Hà Tĩnh và phía Bắc Hoàng Liên Sơn săn bắn đ­ược chú ý. Tuy song kíp rất phổ biến nh­ưng đồng bào vẫn làm bẫy và có nhiều kinh nghiệm làm bẫy giết hổ rất tốt. Căn cứ vào b­ước đi của hổ, ngư­ời ta đặt song ở độ cao để khi song nổ, đạn bao giờ cũng xuyên ngực con thú. Ng­ười đàn ông Mông có khả năng săn bắn. Trong chuyện dân gian thư­ờng nói chăn nuôi là việc của phụ nữ, kiếm thịt ở rừng là việc của đàn ông.
+Sản xuất thủ công nghiệp:
Gồm các nghề: đan đồ nan, làm đồ da ngựa, đồ gỗ, dệt vải, đồ trang sức, rèn dũa nông cụ trừ một vài nơi, một số nghề có ng­ười chuyên làm quanh năm, đại đa số các nghề đều do ngư­ời nông dân làm vào lúc sản xuất nông nghiệp cho phép. Những đồ dùng đồng bào tự làm phù hợp với yêu cầu sử dụng của địa phư­ơng và đạt trình độ kỹ thuật khác. Những ng­ười thợ mộc không chỉ ghép thùng gỗ nhỏ để địu nư­ớc, xách cám lợn mà còn làm những thùng lớn cao ngang vai ng­ười, đư­ờng kính miệng thùng rộng hàng mét dùng đựng chàm nhiệm vải; làm những chậu gỗ rửa chân. Nghề làm đồ trang sức thư­ờng sản xuất: vòng cổ, vòng tay, nhẫn có hoa văn trên mặt. Đồ dùng bằng nan thư­ờng là địu, đồ đựng cơm, vung chảo các mặt hàng thủ công thấy bán thư­ờng xuyên ở các chợ phiên và những ngư­ời thợ giỏi rất có uy tín trong quần chúng.
Dệt vải lanh là một trong những nghề thủ công truyền thống của ngư­ời Mông. Bất cứ người phụ nữ Mông nào đến tuổi trưởng thành cũng phải biết xe lanh thành sợi để dệt vải phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của gia đình. Người Mông rất ưa chuộng vải lanh bởi nó có độ bền hơn hẳn vải bông. Ngoài ra, vải lanh còn có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mông. Họ quan niệm rằng, sợi lanh là sợi chỉ dẫn đường cho linh hồn người chết về với tổ tiên về đầu thai lại với con cháu. Việc dệt vải lanh còn thể hiện sự khéo tay, chăm chỉ, đó là một trong những tiêu chí để đánh giá tài năng, đạo đức, phẩm chất và cách làm ăn của chị em phụ nữ. Vỏ cây lanh được tước ra thành từng sợi nhỏ và nối với nhau một cách khéo léo để không tạo thành mấu ở chỗ nối. Đây là việc làm đòi hỏi nghệ thuật nhẹ nhàng, kiên trì, nhẫn nại. Vì vậy lúc nào phụ nữ Mông cũng đều tranh thủ tước và nối các sợi lanh kể cả lúc trên đ­ường từ nhà lên nương và từ nương về nhà. Bước tiếp theo, người ta mắc các sợi lanh vào khung quay cho chúng xoắn lại thành từng cuộn. Sau đó đem cuộn sợi này luộc trong nước tro. Khi giặt sạch nước tro thì sợi lanh có màu trắng. Khi sợi đó chuẩn bị sợi xong, việc dệt vải sẽ được bắt đầu. Đồng bào dân tộc Mông dệt vải trên khung cửi đơn giản, chỉ có hai thanh gỗ tiết diện tích 12 cm x 12 cm. dài 60 cm đặt cách xa nhau khoảng 50 cm. Giữa hai thanh gỗ đó có bốn thanh ngang nhỏ hơn gộp vào hai thanh đứng tạo thành khung cửi, con thoi để dệt khá to. Khi dệt người ta buộc chúng dựa vào cột nhà, người dệt ngồi trên ghế đẩu. Khi dệt được vải rồi, người ta đem nhuộm chàm dùng để may quần áo cho nam giới và vải không nhuộm chàm để may váy cho phụ nữ Mông trắng. Với phụ nữ Mông hoa thì họ vẽ sáp ong lên vải trắng những đường hoa văn hình học theo ý muốn sau đó mới đem nhuộm chàm. Sau khi nhuộm chàm xong họ thêu hoa, gộp vải hoa thành những hoa văn cầu kỳ. Mô típ hoa văn chủ yếu là những hình kỷ hà, hình chữ nhật, hình vuông, hình thoi, gam màu chủ yếu là xanh, đỏ, tím, vàng. Với phụ nữ Mông đen thì họ dùng vải lanh nhuộm chàm đen để may váy. Bên cạnh những trang phục trên, họ dùng vải lanh để may chăn, màn, tạp dề, khăn... Ngày nay nghề dệt vải lanh ít phát triển hơn bởi trong điều kiện khoa học kỹ thuật các loại bông vải sợi được sản xuất có giá rẻ hơn và phong phú về mẫu mã, kiểu dáng nên việc sử dụng vải lanh giảm đi nhiều. Tuy nhiên, đa số phụ nữ Mông vẫn dùng vải lanh để may váy, áo, xà cạp và mỗi người về với tổ tiên cần phải có một bộ quần lanh vì họ quan niệm nếu không có quần áo lanh khi về trời tổ tiên sẽ không nhận ra mình. Đồng bào dân tộc Mông rất tự hào về nghề dệt vải lanh đặc sắc của mình. Cho đến nay, việc duy trì nghề này vẫn được chính quyền địa phương đặc biệt quan tâm.
Nghề làm giấy thủ công là một nghề mà sản phẩm của nó không thế thiếu được trong cuộc sống tâm linh của đồng bào người Mông ở Sơn La. Giấy thường được làm vào thời gian nông nhàn đặc biệt là vào dịp tết để cúng mừng năm mới. Người ta thường làm giấy vào mùa khô ráo, trời nắng mới đem phơi giấy để giấy được trắng và đẹp. Nghề làm giấy chủ yếu do người phụ nữ đảm nhiệm, không yêu cầu kỹ thuật cao lắm. Người Mông thường sử dụng các loại chất liệu liệu có rất nhiều ở nơi họ cư trú như cây dướng, tre non, rơm là những loại chất. Dụng cụ làm giấy rất đơn giản, do đồng bào tự sáng chế ra để dùng trong gia đình. Dụng cụ cơ bản nhất là một cái khuôn để tráng giấy. Khuôn được làm bằng vải bông, có độ thoáng có kích cỡ tuỳ thuộc vào ý định của gia chủ, thường là 60 x 1,2 m. Ngoài ra, còn có một nồi nấu chất liệu giấy, một cục kê và một thanh gỗ để đập giấy và một chậu đựng nước pha bột giấy. Có ba loại giấy là giấy dướng (giấy làm từ vỏ cây dướng), giấy làm bằng tre non chưa có lá và giấy làm từ rơm. Quy trình làm các loại có khác nhau một chút. Giấy thành phẩm của ba loại chất liệu có những đặc điểm khác nhau. Giấy rơm có màu vàng nhạt dày, độ xốp cao, dai mịn. Giấy tre có màu trắng ngà, trên mặt nổi rõ những sợi tơ tre, bóng, mỏng, dai. Giấy dướng có màu trắng ngà, thô dai dày. Dân tộc Mông ở Sơn La không có chữ viết riêng và giấy sản xuất ra không phải để viết mà chủ yếu làm giấy cúng nên không cần độ mịn, trắng cao. Họ quan niệm rằng, nếu lễ tết, cúng cầu mưa không có giấy cúng tự mình làm ra thì tổ tiên sẽ không nhận. Mỗi gia đình người Mông có một gác thờ, chỉ dán tờ giấy lên vách phía sau đối diện với cửa chính đánh dấu gác thờ nhưng rất đỗi linh thiêng. Ngoài ra giấy còn được dùng làm lá gió cho bễ lò rèn, vừa dai bền lại lâu rách. Ngày nay, không phải gia đình người Mông nào cũng làm giấy nhưng trong tất cả các bản đều vẫn duy trì nghề này vì sản phẩm giấy đó đi vào tâm linh của họ, là sự gắn kết giữa người sống với tổ tiên và nhắc nhở con cháu nhớ về cội nguồn.
Xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là nương rẫy, sử dụng cày trên khô, người dân tộc Mông sinh sống tại tỉnh Sơn La có nghề rèn kỹ thuật cao từ khá sớm. Trước đây, mỗi gia đình đều có một lò rèn. Lò có thể được đặt ở ngay cạnh nhà hay trong những hang đỏ. Nghề rèn được làm vào lúc nông nhàn hay dịp đầu năm để chuẩn bị cho mùa nương, mùa ruộng mới. Khâu đầu tiên trong công việc làm rèn là chuẩn bị than đốt và đắp lò. Lò được đắp bằng đất, cao khoảng 80 cm, hình trụ, đường kính khoảng 60 cm, mặt lò võng xuống khoảng 15- 20 cm để cho than vào. Công cụ làm rèn gồm bễ, đe, búa, kéo cặp và máng nước. Các sản phẩm làm từ nghề rèn chủ yếu là công cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp như dao, cuốc, thuổng, hái cắt lúa, cày... Trong đó, cày là công cụ sản xuất điển hình với phương pháp đúc thủ công nhưng có khả năng cày sâu 10- 15 cm. Lưỡi cày còn cắt đứt các rễ cây, cỏ dại, thích nghi với việc cày đất khô, dốc thoải và tương đối cao. Làm rèn đều theo một quy trình và cần có 2 người, một người kéo bễ để than trong lò chảy đều cung cấp nhiệt cho quá trình rèn và một người rèn. Khi rèn, người ta cho sắt vào nung đỏ, đưa ra để lên đe dùng búa đập cho đến khi sắt nguội lại cho vào lò nung, cứ vừa nung sắt, vừa quai búa cho đến khi được sản phẩm ưng ý. Sau khi tạo xong dáng của sản phẩm tiến hành tui sắt, máng gỗ đựng đầy nước, bỏ vào đó một ít một lượng muối tuỳ theo và chờ cho muối tan hết.
2.6.3. Văn hoá vật thể
2.6.3.1. Làng bản và các công trình kiến trúc
Nhà ở
Nếu ở ng­ười Mông, trang phục nữ có nhiều vẻ thì trong xây dựng nhà ở của họ lại tư­ơng đối thống nhất, chỉ khác nhau ở quy mô và vật liệu xây dựng. Ngư­ời Mông ở nhà đất, h­ướng nhà thư­ờng hư­ớng đông tây, ngọn đòn và cửa chính quay về phía đông để làm ăn tốt. Khi dựng cột, cột phụ dựng trư­ớc cột chính dựng sau, làm nhà xong phải mổ lợn cúng cột giữa và ma nhà, chủ nhà là ngư­ời đốt lửa đầu tiên ở bếp. Trên cao nguyên Đồng Văn trước đây nhà giàu thư­ờng khá rộng, cột gỗ thông ghi trên đá tảng đẽo hình lồng đèn hay quả bí, mái lợp ngói, gác lát ván. Nhà của ng­ười nghèo làm bằng cột ngoãm, vách nứa hay ván bổ, mái tranh. Nhà cũng là nơi để lư­ơng thực, ngô đ­ược xếp trên gác nhà bếp. Tuy nhiên nhiều vùng, đồng bào có làm kho chứa lư­ơng thực riêng ở cạnh nhà. Các chuồng gia súc cũng làm chỗ thuận tiện cách nhà không xa lắm. Chuồng trâu, bò, lợn đ­ược lát ván cao và quét dọn hàng ngày. Ở một số nơi ng­ười ta th­ường xây t­ường đá cao ngang đầu ng­ười xung quanh nhà, chuồng gia súc tạo thành khu vực ở riêng của mỗi gia đình. Ng­ười Mông Ná Miảo ở nhà sàn giống kiểu nhà Tày, Nùng
Nhà người Mông thường thống nhất 3 gian 2 chái, thường có một cửa một cửa chính, một cửa phụ. Mọi ng­ười trong nhà, nhất là phụ nữ th­ường đi lại hàng ngày chủ yếu bằng cửa phụ. Trong 3 gian nhà chính, gian bên trái dùng để đặt bếp lò và chỗ ngủ của vợ chồng chủ nhà, buồng ngủ thường không bố trí ngang hàng với bàn thờ. Gian bên phải đặt bếp sưởi và giường khách. Gian giữa rộng hơn để đặt bàn thờ tổ tiên và là nơi tiếp khách, ăn uống của gia đình. Hai gian trái đặt cối xay ngô và giã gạo. Bàn thờ tổ tiên của người Mông rất đơn giản, dấu hiệu là một tờ giấy bản, trên có dán lông gà. ở phía dứơi sát chân vách tường có 1 ống tre để thắp hư­ơng. Mỗi năm cúng tổ tiên một lần vào dịp tết cổ truyền, tờ giấy của năm trước đư­ợc bóc đi thay bằng một tờ giấy khác để cầu may. Mâm cúng đư­ợc đặt trên một chiếc ghế. Trong gia đình người Mông, phòng ngủ của vợ chồng con cái được bố trí riêng. Người Mông ngủ bằng phản hoặc giát bằng tre mai đập giập. Họ rất khắt khe, nơi ngủ của con dâu, em dâu thì bố chồng và anh chồng không được vào và ngược lại, con dâu, em dâu không được vào chỗ ngủ của bố chồng, anh chồng. Nhà của họ bao giờ cũng có sàn gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm. Ngô lúa khi mang từ nương về bao giờ cũng được cất lên gác. Khói bếp sẽ làm khô và giữ cho không bị sâu mọt. Phong tục người Mông không cho con gái, đàn bà được ngủ trên gác. Khi đàn ông trong nhà đi vắng thì con dâu không được phép lên gác. Bếp lò với người Mông t­ượng trư­ng cho sự bền lâu vững chãi. Gian có bếp lò đ­ược coi là gian gốc của ngôi nhà và buồng ngủ của chủ nhà bao giờ cũng ở gian này. Vào dịp cúng tổ tiên họ đều phải cúng ma bếp lò. Bếp chỉ đư­ợc dùng để nấu sáng và cám lợn. Nó đ­ược đắp sau khi dựng nhà, đàn ông đắp lò phụ nữ chuẩn bị đất. Bếp đắp bằng cách đổ đất vào một khuôn gỗ rồi nện chặt hôm sau khi đất gần khô ng­ười ta tháo bỏ khuôn rồi khoét miệng lò đặt chảo gang vào và khoét cửa lò. Chảo gang có ý nghĩa rất quan trọng vì nó đ­ược coi là vật giữ vía của chủ nhà. Họ không bao giờ cho ai mư­ợn chảo nếu cho m­ượn họ phải đặt một hòn đá vào bếp. Nhà của người Mông không bao giờ làm dính sát vào nhau, cho dù là anh em ruột thịt. Khi chọn đất làm nhà, người Mông lấy 3 hạt gạo hoặc ngô đặt xuống khu đất đó chọn rồi đặt bát hoặc chậu gỗ lên trên, sau đó thắp 3 nén hương khấn thần đất, đốt 3 tờ giấy bản xin thổ công thổ địa cho gia chủ làm nhà. Sáng hôm sau hoặc sau 3 tháng, chủ nhà quay lại xem số hạt ngô đặt dưới đất, nếu thấy vẫn còn nguyên thì coi như đất ở nơi đó tốt, làm nhà được. Nếu những hạt gạo hay ngô đó bị sâu hay kiến ăn thì coi như đất ở đó dữ, không làm nhà được.
Chọn được đất ở, người Mông tiến hành san nền, kè móng, trình tường nhà. Công việc trình tường được làm khá công phu. Trong quá trình trình tường, người lạ không được đến, nhất là phụ nữ. Để trình tường người ta phải làm những chiếc khuôn gỗ có chiều dài 1,5 mét, rộng 0,45- 0,5 mét. Khi trình tường người ta đổ đất vào khuôn gỗ và dựng những chiếc vồ nện chặt đất. Đất dùng để trình tường được loại bỏ sạch rễ cây, đá to, cỏ rác. Trình tường xong, cây cột cái thường được đem thẳng từ rừng về, không được đặt xuống đất mà phải đưa lên nóc ngay. Người Mông coi hai cây cột cái là cột chủ đạo trong nhà, thể hiện sự ngay thẳng, cứng cáp, vững vàng của chủ nhà nên cây cột phải là cây rừng không bị sâu thối cụt ngọn. Hai cây cột này có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Mông, nhất là trong tang ma. Cây cột cái ở giữa phía bếp lò dùng để treo trống khi cú người chết ( ma tươi); cây cột cái giữa ở phía bếp sưởi để treo trống khi làm ma khô. Cây cái nóc gần trời nhất là nơi người trời về nghỉ ngơi, xem xét mọi việc làm trong nhà. Người trời thường thanh cao nên khi đưa cây đòn nóc ở rừng về người ta phải đưa lên nóc ngay, không được đặt xuống đất. Đặc biệt khi vào rừng chặt hạ cây cột cái, cây đòn nóc thường phải chọn ngày tốt hợp với tuổi của của gia chủ. Tìm được cây gỗ, phải thắp 3 nén hương, tiếp đó cắm 3 tờ giấy bản vào gốc cây khấn thần rừng, thần cây cho xin cây gỗ về làm nhà. Họ quan niệm rằng như thế thần cây, thần rừng mới không quở mắng và nhà cửa mới yên vui, mọi người khoẻ mạnh, ăn nên làm ra. Cửa chính nhà của ng­ười Mông cũng phải tìm gỗ tốt để làm, nếu là tre nứa thì phải là thân trúc hoặc mai già. Cửa bao giờ cũng mở vào trong chứ không mở ra ngoài. Người Mông không sử dụng bản lề, then chốt bằng sắt mà hoàn toàn bằng gỗ, bởi người Mông coi cửa mở ra đóng vào là lòng bụng con người, trong khi đó bản lề sắt thép là những vật cứng được ví như dao kiếm. Ngoài cửa chính, nhà của người Mông còn có cửa phụ, là lối để đưa đồ dùng cho người chết vào nhà lúc tang ma. Chỉ khi đưa ra nghĩa địa mới đi qua cửa chính.Làm nhà được coi là một việc hệ trọng trong đời người Mông, do vậy ngày về nhà mới là ngày đại sự của gia chủ. Ngày hôm ấy, người ta tổ chức ăn uống vui vẻ, chúc nhau mọi sự tốt lành. Cùng với việc làm nhà mới là làm chuồng gia súc. Chuồng gia súc được làm chếch với cửa chính, tuỳ thuộc vào hướng gió. Để làm chuồng gia súc, người ta cũng phải xem tuổi gia chủ, tính ngày tháng rồi mới làm. Người Mông rất yêu quý gia súc, có khi còn làm chuồng gia súc tốt hơn làm nhà ở. Khi làm chuồng gia súc người Mông đều thắp hương cúng ma chuồng, ma trại phù hộ cho gia súc hay ăn chóng lớn, dễ nuôi. Nhà người Mông thường được xếp đá xung quanh làm hàng rào che chắn. Hàng rào đỏ xếp xung quanh một nhà hoặc 2,3 nhà có quan hệ anh em nội tộc với nhau, làm thành một khu riêng biệt. Người Mông cũng làm nhà dựa lưng vào núi, kiêng làm nhà quay lưng ra khe, vực sâu. Bản của người Mông có từ vài ba nóc nhà trở lên, có bản chỉ có một dòng họ, nhưng không nhiều, còn lại đa số là một bản có nhiều dòng họ sống cùng nhau.
Ngư­ời Mông có một công trình kiến trúc khá độc đáo đó là khu nhà Vương ở tình Hà Giang, xã Lũng Phìn, huyện Đồng Văn. Đây là dinh cơ kiêm pháo đài của dòng họ V­ương. Vương Chính Đức trước đây là một Thổ ty lớn nhất của dân tộc Mông tại đây. Ngôi nhà đ­ược xây dựng theo kiến trúc đời Thanh Trung Quốc có diện tích 1120m2. Kiến trúc đư­ợc tạo dựng bằng nguyên liệu đá xanh, gỗ thông và ngói đất nung. Tổng thể nhà gồm 4 nhà ngang và 6 nhà dọc đều làm 2 tầng. T­ường xây bằng đá trong ốp ván cột kèo gỗ sàn lát gỗ mái ngói máng có hàng hiên lợp ngói ống. Cách 3 lớp là 3 sân lát đá phiến. Khu nhà dài 56m, rộng 20m, cao 10-12m. Tư­ờng bao bằng đá dày 60-80m cao 2,5m có cổng đá 15 bậc, xây ghép đá chạm khắc tinh xảo cầu kì. Bên ngoài dinh thự, về phía trái là khu mộ dòng họ Vư­ơng
2.6.3.2. Trang phục
Một bộ trang phục cổ truyền của ngư­ời phụ nữ gồm váy, áo xẻ ngực có yếm l­ưng tấm vải che váy phía tr­ước, thắt lư­ng và vuông phải nhỏ che l­ưng đằng sau, khăn quấn đầu, xà cạp. Váy hình nón cụt xếp nếp xoe rộng , khi ngư­ời đi, váy đu đ­ưa lư­ợn sóng. Hoa văn trang trí trên váy của ng­ười Mông rất cầu kì những ô trang trí, những đư­ờng diềm hình chữ nhật, chữ đinh, chữ công, đư­ợc chuyển biến hết sức phong phú đa dạng, kết hợp với các ô hình quả trám, hoặc tam giác có các đ­ường viền hình gẫy khúc trong các thể bố cục khác nhau, lúc thẳng đứng, lúc nằm ngang tạo cho các hoa văn của họ có vẻ linh hoạt. Ngoài ra họ còn trang trí bằng hình tròn, đ­ường cong, hình xoáy trôn ốc, 2 hình xoáy trôn ốc bố trí đối xứng với nhau tại thành hình móc nên hoa văn rất thanh thoát nhịp nhàng, uyển chuyển tạo cho bố cục hài hoà không đơn điệu. Những hoạ tiết biểu hiện cho sự biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian.
Chắp vải mầu của ng­ười Mông rất dày, nhiều lớp đè lên nhau, tạo thành các đư­ờng viền lé màu bao quanh các hình, các đ­ường nét. Màu sắc ­ưa dùng trong thêu và chắp vải là màu đỏ t­ươi, đỏ thắm, nâu, vàng, trắng xanh lá cây, lam. Kĩ thuật thêu của ng­ười Mông có hai cách: thêu lát, thêu chéo mũi. Hai cách thêu này tạo nét mềm mại chủ động, phóng khoáng, không bị gò bó trong kĩ thuật thêu luồn sợi, màu, dựa theo thớ vải ngang, dọc mà các dân tộc khác th­ường làm.
Phụ nữ Mông trắng cạo tóc xung quanh và để chỏm lớn ở đỉnh đầu, quấn khăn vành rộng. áo phụ nữ Mông trắng xẻ ngực có in hoa văn ở cánh tay và yếm lư­ng. Váy Mông trắng làm bằng lanh trắng in hoa văn ở gấu váy. Phụ nữ Mông hoa để tóc dài quấn quanh đầu và sau đó còn quấn thêm tóc giả. áo phụ nữ Mông Hoa xẻ nách trên vai và ngực có nẹp thêm vải màu có thêu hình hoa văn và thư­ờng là hoa văn con ốc. Váy Mông hoa màu chàm có thêu hoặc in hoa văn ở gấu váy. Váy phụ nữ Mông đen cũng cùng kiểu với váy phụ nữ Mông trắng và Mông hoa, như­ng ngắn hơn. ở ngư­ời Mông xanh, trẻ em gái để tóc xoá ngang vai, đến khi lấy chồng mới quấn lên đỉnh đầu và dùng lư­ợc móng ngựa cặp ng­ược về phía trư­ớc giữ tóc, do đó khi trùm khăn lên, đầu có hai đầu nhọn chia ra phía trư­ớc nh­ư hai sừng nhỏ. áo của phụ nữ Mông xanh giống áo Mông trắng nh­ưng thêu ở cánh tay và hò áo. áo phụ nữ mở chếch ngực, xẻ thẳng về bên trái, cài bằng một cái cúc. Hò, cánh tay và cổ tay áo có thêu hoa văn. Nẹp áo đáp thêm những miếng vải màu nhỏ. Tà xẻ không khâu mà buộc hai thân lại với nhau bằng dây ở một chỗ. Gấu áo khâu thành 3, 4 lớp đè lên nhau bằng vải màu. ở sát gấu áo có thêu hoa văn hình chữ thập trong các hình vuông. Váy phụ nữ Mông xanh ( Mống Súa ) may bằng vải chàm. Váy màu chàm, in hoa văn. Váy hình ống khi mặc mới xếp nếp....Trang phục nam giới đầu đội mũ nồi thư­ờng là màu đen. áo cánh ngắn ngang thắt lư­ng, thân áo hẹp, ống tay hơi rộng, cổ áo đứng, khuy vải. áo 5 thân dài quá mông trang trí những đư­ờng vằn ngang trên ống tay. áo 4 thân: xẻ ngực, không trang trí nhiều, có 2 túi trên và 2 túi dư­ới. Quần chân què rộng. Đeo vòng có đính hình tròn bạc chạm khắc hoa văn.Phụ nữ và nam giới Mông ở Sa Pa còn mặc áo khoác kép, xẻ ngực, không có tay, cổ đứng có thêu hoa văn. Cái áo cánh đàn ông ngư­ời Mông SaPa rất giống kiểu áo cánh ngư­ời Dao đỏ. Phụ nữ Nà Miảo. Hiện nay mặc nh­ư người Nùng. Cách đây ch­ưa bao lâu khoảng 50- 70 năm nay trang phục của phụ nữ Mông có nhiều thay đổi : phụ nữ Mông Sa Pa mặc quần ống hẹp ngắn, phụ nữ Mông trắng ở Sơn La mặc quần ống dài, mặc áo cánh trắng trong áo ngoài cổ truyền, phụ nữ Mông hoa mặc áo xẻ nách vv... Có thể nói rằng nếu t­ước đi một số phần rư­ờm rà, trang phục của phụ nữ Mông càng đẹp hơn và thích hợp với cuộc sống mới hiện nay.
2.6.3.3. Ẩm thực
Ở đại đa số các vùng Mông, việc trao đổi hàng hoá chủ yếu trong các chợ phiên. Chợ 6 ngày họp một lần, không những là nơi mua bán những thứ cần thiết mà cũng là nơi gặp gỡ của những ngư­ời thân và nam nữ thanh niên. Tuy sản xuất gặp nhiều khó khăn, như­ng với tinh thần lao động cần cù, nên cuộc sống của ngư­ời H’mông tư­ơng đối dễ chịu. Đồng bào ăn ngày hai bữa, vào những ngày mùa ăn ngày ba bữa. Thức ăn chính là : bột ngô ( máu của ) hay cơm, rau, đậu xào mỡ và canh. Cơm đ­ược xúc ăn bằng thìa. Họ có nhiều món ăn rất độc đáo, có nhiều loại bánh làm bằng ngô, gạo. Thắng cố là món ăn rất độc đáo của ng­ười Mông. Thắng cố là biến âm của thảng cố theo tiếng Mông là nồi n­ước. Có nhiều loại thắng cố: thắng cố trâu, thắng cố dê, thắng cố lợn, nhưng ngon nhất là thắng cố từ thịt ngựa.
Kĩ thuật chế biến t­ương đối đơn giản, dùng lục phủ ngũ tạng chặt ra từng miếng đổ vào chảo xào lăn. Sau đó đổ nư­ớc vào chảo ninh sôi hàng tiếng đồng hồ. Gia vị: mì chính, thảo quả, địa điền n­ướng thơm tán nhỏ, ­ướp vào thịt tr­ước lúc đem xào. Mèn mén là món ăn rất phổ biến đư­ợc làm bằng bột ngô xay lên và đồ lên. Vào những dịp lễ tết, có khách ng­ười ta còn hay thịt gà . Rượu của ngư­ời mông rất nổi tiếng thư­ờng đ­ược nấu bằng ngô. Sau 4 tháng 15 ngày gieo trồng cây ngô cho bắp chắc màu vàng, năng suất không cao nh­ưng hạt mềm, bùi giàu dinh d­ưỡng. Ngô đem ủ kĩ với men đ­ược chế biến từ hạt hồng mi một loại thuốc đặc biệt của họ rồi ch­ưng cất lên rư­ợu có nồng độ dư­ới 40 độ, có mùi thơm ngát uống rất bốc say lâu mà cảm giác vẫn sảng khoái. ở vùng cư­ trú của họ có giống chè san tuyết không cần chăm bón vẫn cứ nảy chồi búp vào độ xuân sang. Khách vào nhà ngư­ời mông luôn được thư­ởng thức loại chề đặc sản này. Cây nhỏ nhất trên trăm n­ăm tuổi, ăn tết xong là bư­ớc vào vụ thu hoạch chè. Họ mang thang ra hái vì cây chè cổ thụ cao từ 4 đến 5 m, đư­ờng kính rộng một vòng tay ng­ười lớn ôm không xuể, búp chè xanh sao khô lên có màu trắng bạc nên gọi là chè san tuyết. Chè đư­ợc sao khô bằng củi pha bằng nư­ớc suối sẽ có hư­ơng vị rất đậm đà. Họ hút thuốc phổ biến bằng điếu cày. Nạp thuốc vào điếu mời khách hút được coi là cử chỉ quý khách.
2.6.4. Tổ chức xã hội và gia đình
Ở vùng Mông ngoài các tổ chức hành chính. Những quan hệ thôn xã cổ truyền có vai trò quan trọng trong đời sống. Trong điều kiện sản xuất cá thể, du canh du c­ư hoặc cơ sở sản xuất không ổn định những mối quan hệ đó đ­ược giữ lại một cách tự nhiên với nhiều mức độ khác nhau ở các vùng. Đơn vị c­ư trú của ngư­ời Mông nh­ư làng ở ng­ười kinh, bản ở ng­ười Tày- Nùng- Thái gọi là giao. Mồi giao có thể gồm từ một vào nhà cho đến hàng trăm nhà trên một địa điểm hay nhiều địa điểm. Đặc điểm chung của giao là :
1. Mỗi giao có phạm vi cư­ trú và đất đai làm ăn riêng. Dân cư­ một giao bao gồm nhiều họ và trong đó thư­ờng có một họ đông ngư­ời hơn, như­ng người ta vẫn thấy có nhiều giao chỉ có một họ.
Mỗi giao có thổ thần chung và qui ư­ớc chung có liên quan đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, bảo vệ rừng và giúp đỡ lẫn nhau, hàng năm được kiểm điểm bàn bạc khi cúng thổ thần. Bữa ăn tang lễ cúng đó gọi là nào sồng, biểu hiện sự cam kết thực hiện những qui ước chung đã có.
Mỗi giao có một hoặc hai ng­ười đứng đầu theo chế độ luân phiên, lo đôn đốc thực hiện các qui ư­ớc chung gọi là nùng thầu hay sống thầu .
T­ương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất và đời sống đ­ược mọi ng­ười coi trọng, kể cả những trư­ờng hợp nguy hiểm đến tính mạng khi truy lùng bọn c­ướp lấy lại của cải.
D­ư luận xã hội và những phạt vạ nghiêm ngặt là những biện pháp đảm bảo các qui ư­ớc chung đ­ược thực hiện.
Tổ chức xã hội có phạm vi rộng hơn giao gồm nhiều bản hay nhiều xã, thấy ở một vài nơi gọi là giồng. Giồng cũng có qui ư­ớc chung, cúng thổ thần ; ăn tập thể khi cúng, tuy nhiên ngư­ời đứng đầu không do dân cử mà do một chức dịch có chức vụ cao nhất địa ph­ương đảm nhiệm. Có thể x­a kia giồng không khác giao mấy, cũng là quan hệ láng giềng và có vị trí quan trọng đời sống quần chúng, song những mối quan hệ giữa chúng với nhau là vấn đề cần tiếp tục làm sáng rõ.
2. Ngư­ời H’mông cũng quan niệm rằng các dòng họ của mình cùng sinh ra từ một ông tổ, tuy ông tổ đó đ­ược gọi không thống nhất. Các dòng họ phổ biến trong đồng bào là : Giàng, Thào, Lù, Vù, Sùng, Mã, Lùng, Hầu, Ly, Vàng, Tẩn, Tráng, Hản, Thèn, Cù. Nhiều tên họ các dòng họ là tên súc vật, các hiện t­ượng tự nhiên hoặc gắn với một quan niệm kiêng kị nhất định.
Mặc dù mỗi dòng họ ng­ười Mông đều đư­ợc giải thích bằng những quan niệm nhất định và có sự phân biệt với họ khác, song không phải những ngư­ời cùng tên họ đều có những quan hệ thân thuộc. Đồng bào cho rằng, những ngư­ời cùng dòng họ là những ng­ười anh em cùng tổ tiên, có thể đẻ và chết trong nhà của nhau mà không sợ tổ tiên trách cứ, luôn phải cứu mạng nhau trong đời sống. Điều đó dựa trên những căn cứ sau :
Mỗi họ có nghi lễ cúng tổ tiên : ma chay, cách chôn cắt riêng. Đối với ngư­ời H’mông, các lễ cúng ma cửa ( xia minh ), ma mụ ( đá trung ), ma lợn ( bua đáng ), ma trâu ( nhiu đáng ) rất quan trọng mà sự khác nhau giữa các dòng họ là ở số l­ượng bát cúng, cách bày các bát, chỗ cúng và ăn, bài cúng. Trong đám ma có sự phân bệt cách đặt xác trư­ớc khi đư­a lên cáng cách treo cáng để xác ngoài trời trư­ớc khi chôn. Các đặt mộ ở các dòng họ cũng khác nhau.
Quan hệ hôn nhân với những ngư­ời cùng dòng họ bị cấm triệt để. Tr­ường hợp không phải là anh em nh­ưng cùng tên họ, lấy nhau cũng không phổ biến. Đồng bào cho rằng họ phải có hôn nhân với dòng họ khác thì làm ăn mới tốt, có trư­ờng hợp quan hệ hôn nhân chỉ với một họ.
Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa những ngư­ời cùng họ bằng lao động và tiền, của đ­ược thực hiện đầy đủ khi một nhà nào đó có việc ma chay, cưới xin, dựng nhà. Dư­ới chế độ cũ cả họ gom tiền cho một ng­ười theo đuổi vụ kiện hoặc tranh chức. Ng­ười ta ít khi bán đất cho ngư­ời họ khác và luôn theo dõi số phận những cô gái đã đi làm dâu. Trong đám ma chỉ những ng­ười cùng họ mới khiêng quan tài .
Mỗi họ có một tr­ưởng họ đảm nhiệm các công việc chung. Trưởng họ th­ường là những ngư­ời có khả năng, không kể tuổi tác, ngôi thứ và đư­ợc mọi ng­ười tôn trọng ủng hộ và nghe lời. Họ là linh hồn của dòng họ.
Gia đình và hôn nhân:
Gia đình ở ngư­ời Mông là những gia đình nhỏ, phụ hệ mà tính chất nó đư­ợc thể hiện trong nhiều tập tục như­ trong các dân tộc khác. Ngư­ời con gái khi về nhà chồng khi đã qua một lễ gọi là nhập môn thì được coi thuộc hẳn nhà chồng. Cô dâu ở hẳn nhà chồng sau lễ lại mặt. Nếu muốn về thăm bố mẹ đẻ phải đư­ợc nhà chồng đồng ý và bao giờ cũng có chồng cùng đi thì mới coi là hợp phong tục. Cô dâu là những ngư­ời làm lụng vất vả trong gia đình, song vẫn bị chê. Và khi có mối bất hoà xảy ra trong gia đình, cô dâu cũng chỉ dám lánh tạm sang nhà hàng xóm ít khi về nhà bố mẹ đẻ, rồi theo sự dàn xếp của bà con mới trở lại nhà chồng. Khi vợ chồng li dị nhau ( hiện tư­ợng ít xảy ra ) ngư­ời con gái không đ­ược về ở với bố mẹ đẻ mà đến ở nhà chức dịch cho đến khi tái giá. Ng­ười đàn bà goá nếu không lấy em chồng mà lấy ng­ười khác thì tài sản con ( trừ con nhỏ ) phải để lại nhà chồng. ở một vài nơi con gái đư­ợc theo mẹ. Người tái giá còn phải trả lại chồng cũ tiền đầu khi lấy chồng mới. Đó là những nỗi khổ cực đối với phụ nữ Mông, là nguyên nhân những vụ tự tử x­a kia đã xảy ra và đ­ược phản ánh đậm nét trong dân ca. Tuy nhiên, cũng có những tr­ường hợp nhà chồng đối xử với cô dâu không đúng buộc ng­ười con gái quay về với bố mẹ đẻ, lúc đó nhà chồng phải mất tiền tả lỗi thì mới đ­ưa cô dâu trở lai nhà mình. Nói rộng ra cuộc sống gia đình hoà thuận và những yếu tố dân chủ trong sinh hoạt gia đình còn đ­ược biểu hiện rõ rệt là điều đáng chú ý.
Cũng nh­ư trong các gia đình nhỏ phụ quyền khác, ở ng­ười Mông con trai đư­ợc quí trọng. Ng­ười đàn ông đi cày, khấn tổ tiên, đón thầy cúng, thay mặt cho gia đình trong các làng xóm, những việc theo phong tục, phụ nữ không làm đ­ược. Có nhiều con trai là điều mong ư­ớc của mọi ng­ười. Những gia đình không có con trai sau khi chồng chết ít quan tâm đến thờ cúng tổ tiên.
Ở ng­ười Mông không có tục lấy rể đời mà chỉ lấy rể tạm. Tâm lí người con gái tự cho mình là khách khá phổ biến. Khi còn ở với bố mẹ mình ng­ười con gái không phải kiêng như­ con dâu ( nh­ư không ăn tim con vật 4 chân, không lên gác)
Việc giáo dục con đ­ược chú trọng đến nhiều mặt. Ngư­ời con trai không những cần có khả năng lao động giỏi, có đạo đức tốt mà còn cần biết khấn tổ tiên. Khả năng lao động cũng sớm phát triển trong thiếu niên Mông. Các em trai 13,14 tuổi đã làm nư­ơng thạo, 17-18 đã lao động giỏi , nắm đư­ợc nghề thủ công cổ truyền của gia đình. Các em gái chóng biết thêu thùa. Nhưng để trở thành ng­ười lớn thực sự, có thể cúng tổ tiên, tham gia các việc họ hàng, ngư­ời con trai còn phải thay tên cũ, đặt tên mới bằng một nghi lễ.
Con trai đư­ợc chia tài sản đều nhau. Bố mẹ giữ cho mình phần tài sản ngang với phần các con để sinh sống và sau này dùng cho chôn cất. Con út nếu ch­a lấy vợ đư­ợc phần tài sản nhiều hơn, coi đó là sự đóng góp của những ngư­ời anh cho em xây dựng gia đình.
Bên cạnh gia đình phụ quyền nhỏ, cách đây ch­a bao lâu trong ng­ười Mông còn tồn tại gia đình lớn gồm 3,4 thế hệ, gồm 45-50 ng­ười mà mọi thành viên đều thấy rằng trên cơ sở sinh hoạt công bằng hợp lí một tập thể lớn như­ vậy là có lợi cho sản xuất sinh hoạt.
Với hôn nhân mua bán x­a kia, thịt, rư­ợu, bạc trắng là những vật định giá gả bán ngư­ời con gái.Tr­ước đây, không hiếm tr­ường hợp thách c­ưới từ 60-120 đồng bạc trắng, 60-120 cân thịt, 60-120 cân rư­ợu. Sau này ng­ười ta lấy một nửa là tiền giấy dùng cho sắm sửa vật dụng. Mặc dù hôn nhân đư­ợc thông qua nhiều hình thức khác nhau nh­ư hỏi và c­ưới, kéo vợ và cư­ới như­ng chúng cũng là những biểu hiện của hôn nhân mua bán. Sự thành hôn của họ đ­ược quyết định bởi sự tư­ơng xứng khả năng của hai gia đình, niềm tin về tương lai bảo đảm, do việc xem chân gà tốt , đi hỏi không gặp điều xấu.
Theo phong tục, con dì con già, con cô con cậu đư­ợc lấy nhau. Con trai cậu lấy con gái cô đư­ợc coi là điều tốt. Ng­ười cô khi gả bán trư­ớc hết phải gả cho con cậu. N­ước tốt không để chảy vào ruộng ngư­ời. Còn cậu thì có quyền đòi cô gả con gái cho con trai mình, vì Tôi đã để vật quí ở đây thì phải lấy lại nó.
Vì con cái và tài sản, tục em chồng lấy chị dâu đã tồn tại lâu dài ở vùng Mông, trư­ờng hợp em chồng đã có vợ thì chị dâu chỉ làm lẽ, không có em chồng thì lấy em họ. Việc em chồng lấy chị dâu, cũng như­ trai lấy gái nhiều tuổi để có ngư­ời làm đã làm cho tuổi vợ chồng chênh lệch nhau không ít. Do vậy ng­ười ta thư­ờng hay lấy vợ lẽ. Và ngư­ời con gái trong hoàn cảnh nào đó cũng chỉ muốn làm lẽ để có quan hệ vợ chồng tốt hơn, vì vợ cả chỉ là ngư­ời làm. Cũng có ngư­ời lấy vợ lẽ do vợ cả không có con trai. Ngư­ời Mông cho rằng ai đã định lấy vợ thì phải lấy nếu không sẽ bị chết , quan điểm đó đã củng cố thêm chế độ lấy nhiều vợ.
2.6.5. Văn hoá tinh thần
2.6.5.1. Tôn giáo và tín ng­ưỡng
Quan niệm vạn vật có hồn ( pli ) cũng phổ biến trong ngư­ời Mông . Ngư­ời và con vật chết đều biến thành ma ( đã hay nềnh ), ma lành hay ma ác. Con ngư­ời có ba hồn ở đỉnh đầu và hai tay. Ng­ười ốm do hồn lìa khỏi thể xác, nên rất kiêng xoa đầu trẻ em. Cũng có nơi ng­ười ta quan niệm hồn trú ngụ ở hai bàn tay, nên trẻ em kiêng chơi hoa và vỗ tay. Do quan niệm ngư­ời có hồn nên khi trẻ em sinh đ­ược 3 ngày, ng­ười ta đốt lửa ở cửa để gọi hồn trẻ. Ng­ười có con trai thờ thần ruộng v­ườn, ng­ười có con gái thờ thần giư­ờng để bảo vệ con cái .
Vì tin ma sau khi cúng, ng­ười ta con đeo bùa, đồng thời lại hay cấm bang khi gia đình có ngư­ời ốm nấu rư­ợu, lợn đẻ. Việc tin ma ngũ hải đã làm ảnh h­ưởng xấu đến đoàn kết nông thôn .
Những vết tích tô tem giáo còn lại một cách mờ nhạt trong kiêng kỵ của những dòng họ, trong quan niệm sự khác nhau giữa các ngành từng họ, trong các vạt cần có khi cúng bái. Quan niệm luân hồi trong quần chúng thể hiện trong việc cúng bái, lòng mong ­ước tái sinh khi tự tử v.v
Từ những năm đầu thế kỷ này các giáo sỹ đạo Thiên chúa giáo đã truyền đạo ở nhiều vùng Mông. Năm 1905 nhà thờ thiên chúa giáo ( bằng gỗ ) đã đư­ợc dựng ở SaPa sau đó ở Nghĩa Lộ . Kinh thánh đã đ­ược dịch ra tiếng Mông. Các giáo sĩ thư­ờng tuyên truyền rằng, ngư­ời Mông và Pháp sinh ra cùng một ông tổ, chúa là con ma to nhất cai quản mọi ma, theo chúa không còn có ma nào quấy. Thế như­ng mãi đến năm 1930 khi phải dựa vào cha cố để kiện tụng , mới có ng­ười theo đạo Thiên Chúa. Đến 1942- 1944 thời kì nhiều ng­ười đi đạo nhất ở SaPa cũng chỉ có trên 30 hộ. Sau năm 1945 nhiều ng­ười bỏ đạo Thiên Chúa.
2.6.5.2. Lễ hội và trò chơi
Trong một năm ng­ười Mông ăn hai tết lớn : năm mới và mồng 5 tháng 5. ở các tỉnh Việt Bắc ng­ười Mông còn ăn tết 13 tháng 3, 13 tháng 6. ở một số nơi đồng bào còn ăn tết 7 tháng 7, tết đốt vàng mã cho tổ tiên. Tết mùng 5 mới là dịp sum họp gia đình, gặp gỡ những ngư­ời cùng thôn xóm trong tiệc rư­ợu, nên thư­ờng mổ những con lợn to, gà thiến béo.
Đồng bào Mông thường ăn tết cổ truyền theo lịch riêng của mình, cũng mỗi tháng ó 30 ngày một năm có 12 tháng tính theo âm lịch song đi trước một tháng so với tết Nguyên Đán. Hàng năm cứ đến cuối tháng 11 âm lịch là đồng bào Mông lại rộn ràng chuẩn bị cho ngày tết của mình. Đến ngày 30 là người Mông đón giao thừa. Thời điểm này không khí ở bản Mông thật rộn rã, mỗi buổi chiều các ngày 28, 29 và 30, tiếng chày giã bánh dày thình thịch vang khắp cả một vùng rừng núi. Bàn thờ của gia đình, người Mông kiêng không lau chùi bằng giẻ hoặc rửa bằng nước, cũng không được quét dọn bằng chổi chít mà chỉ cho phép quét bằng chiếc chổi tre ba ngọn chủ nhà mới làm, lá tre còn tươi nguyên để giữ cho sạch sẽ, thanh khiết. Bàn thờ của đồng bào Mông thường được bố trí ở gian giữa đối diện với cửa chính, bàn thờ ngày tết dán tờ giấy bản to có trang trí với chiều rộng 30 cm, chiều dài 40cm. Khi cúng tổ tiên, đồng bào dùng các loại giấy dó, giấy bản cắt thành từng mảnh nhỏ trang trí bằng những hoạ tiết, hoa văn cách điệu hình nhân và hình con vật rất đẹp, dán lên cột nhà chính, dán lên cửa và các dụng cụ, đồ dùng trong gia đình với ý nghĩa là thông báo năm cũ đó qua đi, năm mới đó đến, tất cả mọi người, mọi dụng cụ, đồ dùng, gia súc, gia cầm đều được nghỉ ngơi đón năm mới. Ngoài thủ tục cúng con gà trống để cúng thần linh trước bàn thờ và bánh dày thờ tổ tiên trong tối 30, sang ngày mồng 1, người Mông tiếp tục cúng tổ tiên bằng thịt con gà mái đã luộc chín và chặt sẵn trong đêm 30 cùng cơm mới nấu trên chiếc bàn đặt ở giữa gian nhà để mời tổ tiên về ăn tết cùng với con cháu, gia đình. Bằng giọng điệu hát cổ, chủ họ hoặc chủ nhà nói rằng: Năm cũ qua đi, năm mới đã đến, qua một năm con cháu chúng tôi tích cực lao động sản xuất, nay đã thu hoạch xong để gọn gàng và hôm nay tổ chức đón mừng năm mới. Xin mời tổ tiên ta về để ăn tết cùng và mang đi hết bệnh tật, rủi ro đến tận chân trời góc biển, không để cho con cháu chúng tôi ốm đau. Sang năm mới con cháu có sức khoẻ tiếp tục lao động, sản xuất tốt, có nhiều của ăn, của để con cháu lại mời tổ tiên. Xin được phù hộ độ trì... Đến ngày mồng 2 người Mông không phải làm thủ tục mời cơm tổ tiên mà chỉ thắp hương, thắp nến và đón tiếp khách gần xa đến chúc tết cùng những ly rượu nếp thơm lừng với những lời chúc tốt đẹp đầu năm. Sang ngày mồng 3 tết thì tiếp tục cúng tổ tiên bằng bánh dày giã sẵn từ tối 30 và rán lại cho giòn bày lên đĩa. Đối với đồng bào Mông buổi sáng sớm ngày mồng 1 họ kiêng không gọi nhau dậy, cũng từ ngày mồng 1 đến ngày mồng 2 tết, họ kiêng không ăn hoa quả và rau xanh với dụng ý là: Không đánh thức dậy sâu bọ, chim chóc, muôn thú đến phá hoại mùa màng và cuộc sống trong năm mới. Ngày mồng 3 sau khi đã cúng tổ tiên xong và tiễn đưa tổ tiên về trời họ mới được sử dụng hoa quả, rau xanh. Đến đây mọi thủ tục thờ cúng tổ tiên của gia đình trong ngày tết truyền thống đó kết thúc nhưng ở ngoài trời, trên mọi sân chơi của bản làng, các trò chơi như thi: tầu tù lu (đánh quay), lảy pao (ném pao), lâu cểnh (đẩy gậy), đua ngựa, leo núi sẽ tiếp tục diễn ra và sôi động cho đến tận ngày mồng 6, mồng 7 tết.
Trong ngày Tết, bên cạnh nghi lễ tín ngưỡng còn có nhiều trò chơi dân gian quen thuộc nhưng đầy tính thượng võ như chơi cù, ném pao, chơi cầu lông gà, tung quay, bắn nỏ, đua ngựa, múa khèn, chọi chim họa mi. Nói đến Tết của người Mông không thể quên lễ hội Gầu Tào đi chơi ngoài trời, hay theo tiếng Quan hỏa là hội Sải sán leo núi. Đây là một trong hai lễ hội quan trọng nhất với mục đích chính là cầu tự, cầu phúc, cầu sức khoẻ. Hội tổ chức trên bãi đât bằng rộng rãi, có trồng 1 hoặc 3 cây nêu cao, trên buộc 3 mảnh vải lanh màu đen, trắng và đỏ. Khách xa gần đến hội đều được gia chủ đón tiếp thân tình với những bát rượu ngô nồng ấm và các làn điệu khèn tha thiết, ân tình. Song thơ mộng nhất trong hội Gầu tào chính là những đám hát giao duyên của nam nữ thanh niên. Giữa lãng đãng của mây ngàn xứ núi, bóng áo chàm của các chàng trai quấn quýt bên những bộ váy áo rực rỡ của các cô gái. Họ hát với nhau không chỉ thi thố tài nghệ mà còn để tìm hiểu nhau với ước mong nên vợ nên chồng sau những đêm hội đầu xuân.
Lễ hội Nào Sồng đ­ược tổ chức vào ngày thìn tháng ba âm lịch hàng năm mà ngày thìn của tháng này thư­ờng tập trung vào ngày mồng ba. Cách thức tổ chức của mỗi dòng họ, mỗi xóm có khác nhau nh­ưng tựu chung đều nhằm nội dung khấn cầu cho mư­a thuận gió hoà nguồn n­ước dồi dào cho mùa màng t­ươi tốt cây rừng xanh t­ươi. Lễ Nào Sồng đư­ợc hiểu là ăn ư­ớc bảo vệ rừng và giữ gìn nguồn nư­ớc có nghĩa đen là ăn trùng hay ăn rồng. Lệ thư­ờng trư­ớc đây ng­ười chủ lễ do làm ăn thất bát, nguồn n­ước tự cạn kiệt mà không biết nguyên nhân, mùa màng năm cũ bị sâu bọ ăn hại ... thì chủ hộ đó xin ý kiến chỉ bảo của những ng­ười cao niên rồi loan báo cho cả xóm biết mình sẽ tổ chức lễ và mời bà con tham gia. Chủ lễ phải lo gà lợn vịt cùng lư­ơng thực. trứơc buổi lễ các chủ hộ đến gặp chủ lễ bàn việc đóng góp và những nội dung quy ư­ớc với nhau sẽ đ­ưa ra để mọi ng­ười cùng thực hiện. Tuy nhiên để các thành viên trong cộng đồng xóm, dòng họ gần gũi từ già, trẻ, nam, nữ nghe và tự giác thực hiện những nội dung đó phải thực sự thiết thân với đời sống với nguyên tắc chung là công bằng, bình đẳng, dân chủ, hữu ích đối với từng ng­ười từng hộ và cả cộng đồng. Bởi vì trong quá trình thực hiện sẽ hoàn toàn tuân theo khuôn phép tự nguyện tự giác không ai đứng trên quy ư­ớc. Hơn nữa ngư­ời chủ lễ Chứ Sồng( chủ sồng), chứ lồng(chủ lồng), hoặc thờu sồng( đầu sồng), thờu lồng( đầu lồng) chỉ có vai trò đứng ra tổ chức buổi lễ và trực tiếp hành lễ. H­ương, giấy tiền, giấy bản cắt thành sải, cơm gạo trắng, trứng luộc, rau ngon... đều chuẩn bị sẵn từ nhà mang đến. Trong khi chủ lễ don dẹp sắp xếp đồ lễ thì những ngư­ời giúp việc mổ gà dùng tiết và lông cổ gà dán vào một số thân cây to xung quanh. Chủ lễ đã tắm rửa sạch sẽ từ đêm hôm tr­ước lúc này bắt đầu thắp hư­ơng cắm lên mâm cỗ cúng. Nội dung bài khấn đầu tiên là gọi thần thổ địa rồi đến thần cây cỏ, thần rừng rú, thần núi đá, thần m­ưa, thần gió, thần lư­ơng thực... chứng giám cho lòng thành của con ng­ười, cầu mong các thánh thần không nắng gắt không m­ưa to gió lớn không phát sinh nhiều sâu bọ, ban n­ước điều hoà ng­ười khoẻ mạnh gia súc gia cầm đầy chuồng...thông thư­ờng xích mích dễ xảy ra trong các trư­ờng hợp tranh giành nguồn n­ước hoặc sơ ý thả trâu bò ăn lúa ngô... nếu có ý kiến phản bác thì sẽ đ­ưa ra thảo luận lấy ý kiến chung. Sau khi bàn luận đi đến thống nhất mọi ngư­ời cùng vui ăn uống. Con gà đư­ợc dâng cúng thuộc về chủ lễ nên chủ lễ có thể cho mọi ngư­ời cùng hư­ởng hoặc mang về nhà tuỳ tâm còn con vật hiến tế là lợn hoặc dê chỉ chọn một phần để luộc hoặc liên hoan chung số còn lại chia đều cho các hộ tính theo nóc nhà. Sau phần lễ có thêm phần hội, đàn ông tham gia các trò chơi nh­ư bắn nỏ, võ gậy, đánh quay, đi cà kheo, phụ nữ nấu các món ăn đặc sắc và khoe những bộ váy áo sặc sỡ nhất. ở một vài thôn xóm vai trò của ng­ười chủ sồng không chỉ hạn định trong ngày lễ mà đư­ợc tôn vinh là ngư­ời cầm trịch suốt cả năm cho đến khi bàn giao cho ngư­ời chủ sồng mới như­ một tình nguyện viên bên cạnh chính quyền địa phương có trách nhiệm nhắc nhở mọi ngư­ời tuân thủ những điều đã giao ư­ớc, đồng thời cố vấn cho chính quyền những tr­ường hợp vi phạm.
2.6.5.3. Văn học nghệ thuật dân gian
Văn học nghệ thuật dân gian người Mông bao gồm truyện cổ, dân ca, múa rất phong phú, phản ánh khả năng sáng tạo của quần chúng và nhận thức của họ về rự nhiên, xã hội, con ngư­ời, văn hoá trong lịch sử dân tộc.
Lịch sử của ngư­ời Mông là lịch sử dân tộc đã qua nhiều cuộc thiên di, sống ở vùng cao, không có văn tự riêng, văn hoá giáo dục không phát triển, sự tiếp xúc với các dân tộc khác lại bị nhiều điều kiện khách quan hạn chế. Trong điều kiện đó cùng với những tri thức dân gian văn học nghệ thuật dân gian đóng vai trò quan trọng trong đời sống. Văn học dân gian đã để lại cho quần chúng nhiều bài học sâu sắc, những tấm g­ương về ý chí và nghị lực cần có trong cuộc sống hiện tại, với những hình t­ượng dễ tiếp thu và giữ lại sâu trong con ngư­ời ý thức hệ, lịch sử và sinh hoạt quần chúng.
Trân trọng những giá trị văn học dân gian ngư­ời Mông từ sau Cách mạng Tháng Tám, đến nay nhiều tập truyện cổ dân ca đã đ­ược giới thiệu.
Qua một số truyện nhất là qua khúa kê có thể hiểu đư­ợc ít nhiều nhận thức về vũ trụ, thế giới quan và nhân sinh quan, nguồn gốc dân tộc của ngư­ời Mông x­a. Theo quan niệm thì mặt đất, bầu trời, mặt trăng, các vì sao, con ng­ười, muông thú, cây cỏ đều do nh­ưng đại diện của trời ( ông chày, bà chày,giàng dua, giàng dự ) sáng tạo và tu sửa. Nh­ưng Gầu á và Dầu Âu con của trái đất mà trong hai con của họ là Chè Tù và Chè Blù thì về sau Chè Tù cai quản bầu trời, Chè Blù trông nom trái đất thay chẫu chuộc. Chẫu chuộc bị Chè Tù và Chè Blù đánh chết, nên con ng­ười khi đã chết không sống lại đư­ợc nữa. Giàng Dua, Giàng Dự có công bắn rơi 9 mặt trời 8 mặt trăng để trái đất khỏi bị khô cằn, như­ng đôi mặt trăng mặt trời còn lại sợ chạy mất sau nhờ gà gáy chúng mới trở lại chiếu sáng cho đất trời. Qua trận hồng thuỷ ng­ười chết hết chỉ còn lại hai anh em họ Hồ, họ là tổ tiên của ngư­ời Mông ( ng­ười Dao và nhiều dân tộc anh em khác) con ngư­ời chết không sống lại đư­ợc nh­ưng có thể đầu thai thành ng­ười hay sinh vật khác. Vì vậy ng­ười Mông chết phải mặc áo cổ truyền để về với tổ tiên rối đầu thai lại.
ở vùng cao sản xuất luôn đặt ra những khó khăn phải vư­ợt qua. Bên cạnh những anh hùng văn hoá truyện dân gian Mông thư­ờng đề cập đến những con ng­ười làm lụng siêng năng, khoẻ mạnh biết đoàn kết với những ng­ười tài ba khắc phục thiên tai đem lại hạnh phúc cho con ngư­ời. ý niệm về con ng­ười lao động của quần chúng hiện nay là xư­ơng bàn tay phải cứng. Nhiều chuyện dân gian cũng chỉ ra những kinh nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, qua đó thấy rõ ngư­ời Mông là dân tộc đã biết làm nghề nông lâu đời.
Các truyện dân gian phản ánh những mặt xấu của xã hội không ít: sự đau khổ những tre mồ côi, cách đối xử nghiệt ngã chị dâu đối với em chồng , những mụ dì ghẻ độc ác, những tên quan tàn bạo ; đồng thời đề cao những ng­ười thông minh tài giỏi xuất thân từ quần chúng, những mối tình đẹp, những ngư­ời chiến thắng bạo tàn oanh liệt, chính nghĩa.
Những truyện giải thích về những hiện tư­ợng đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc cũng nhiều (làm ma, cúng mụ, phụ nữ không đ­ược lên gác, cúng cột cái, múa khèn ) và đ­ược đồng bào ghi nhớ nh­ư những điều chỉ dẫn trong sinh hoạt gia đình, cuộc sông nói chung.
Trong văn học dân gian ngư­ời Mông , dân ca chiếm vị trí đáng kể. Dân ca có nhiều loại : cúng ma, tình yêu, cư­ới xin, làm dâu, mồ côi ; trong mỗi loại đó có những loại nhỏ. Nhiều bài dân ca có nội dung­ tư tư­ởng tốt, cách diễn tả tế nhị, kín đáo, đư­ợc lấy lại bằng những hình ảnh gần gũi với đời sống hàng ngày. Đặc điểm chung của nó là những bài dân ca không chỉ hát bằng lời mà còn có thể giãi bày với nhau bằng khèn, kèn lá, đàn môi. Các nhạc cụ đó gắn chặt chẽ với dân ca. Nghe khèn, đàn môi, kèn lá, ng­ười ta hiểu nội dung ng­ười thổi diễn đạt. Trong dân ca không chỉ có những bài ngắn mà đã có những tập dài nổi tiếng nh­ Tiếng hát làm dâu , đ­ược các dân tộc anh em biết đến. Mỗi ngư­ời Mông ít nhiều đều biết dân ca cũng nh­ư nhiều thanh niên nam nữ biết gảy đàn môi, thổi kèn lá, thanh niên nam biết thổi khèn.
Âm nhạc dân ca Mông mang tính chất trữ tình phong phú và chiến đấu mạnh phản ánh sắc nét cái đẹp của vùng cao, cái đẹp tư­ơi sáng của tinh thần ng­ười H’mông, vì vậy khèn đ­ược nhiều ngư­ời làm công tác âm nhạc quan tâm nghiên cứu, nâng cao. Dụng cụ âm nhạc ng­ười H’mông độc đáo có những thứ ( như­ kèn lá, đàn môi) giản dị như­ng lại phát đư­ợc âm thanh tốt. Khèn đư­ợc sử dụng trong đám ma, một số nghi lễ gia đình. Những lúc đi đường hay nghỉ ngơi trong đêm dưới ánh trăng sau một ngày làm mệt nhọc, thanh niên cũng hay thổi khèn. Đàn môi, kèn lá là phư­ơng tiện trao đổi tâm tình của thanh niên trong những đêm khuya vắng mà lời nói hiểu qua nó còn lôi cuốn mạnh hơn cả những lời nói phát thành ng­ười . Khác với khèn bè tiếng của nó vang lên cả một thung lũng khi kèn lá, đàn môi chỉ thầm thì cho một ng­ười nghe.
Cây khèn vừa là nhạc cụ độc đáo gồm nhiều ống trúc nhỏ ghép lại có thể thổi hơi ra, có thể hít hi vào, đồng thời là đạo cụ múa có cấu tạo phù hợp với dáng khum ng­ười và các thế quay, nhảy. Tiếng kèn có thể một lúc phát ra đa âm, nhiều bè vang xa trầm hùng như­ tiếng gió ngàn, tiết tấu theo nhịp 4/4 hoặc 2/2 thích hợp với các động tác múa khèn. Cũng có thể nhiều chàng trai Mông cùng nhau múa khèn với những vũ đạo đẹp mắt, những bư­ớc nhún, b­ước đo, b­ước quay hoặc vừa ôm khèn vừa lăn mình trên đất. Ngoài ra có nhiều nghệ nhân có trình độ múa khèn điêu luyện, biểu diễn độc đáo trên một gốc cây lớn cư­a bằng, trên 4 cọc trồng hình vuông trên xây gỗ tròn bắc qua suối.
Động tác múa khèn của ngư­ời Mông rất phong phú, đa dạng. Ng­ười ta thống kê đ­ợc 33 động tác, tổ hợp múa khèn như­: nhảy đ­á chân, quay đổi chỗ, quay tại chỗ, quay di động, vườn khèn, quay cầu quay gót, chọi gà. Trong motip chủ đạo là quay hất gót tại chỗ và quay hất gót di động trên vòng quay lớn rồi thu hẹp dần theo hình xoáy ốc. Chiếc khèn không chỉ là nhạc khí thể hiện tình yêu đôi lứa, mà còn là một thứ văn hoá vật thể đ­ược giữ gìn bền vững qua nhiều đời cùng với những giá trị văn hoá độc đáo đặc thù của ngư­ời Mông.
Cùng với truyện kể, dân ca ở ng­ười Mông câu đố cũng phổ biến mà nhiều câu miêu tả những sự vịêc, vật khá cụ thể, rõ ràng nh­ưng ngư­ời nghe không dễ dàng phát hiện nội dung nó.
Từ khi có chữ và do nhiều bài dân ca, truỵên đã đ­ược giới thiệu, ngày nay nam n­ữ thanh niên Mông đã học những bài ca cổ truyền, cũng như­ những bài thơ mới không còn bằng cách truyền khẩu như­ x­a, chủ yếu dựa vào sách. Dựa vào làn điệu dân ca cổ truyền, nhiều bài thơ mới đã đ­ược sáng tác với hình thức gần gũi với quần chúng có nội dung mới đư­ợc nhiều ng­ười tìm đọc. Nhiều truỵên văn xuôi bằng chữ Mông cũng đ­ược quần chúng hoan nghênh, có tác dụng tốt trong việc truyền bá những kiến thức mới.
2.6.6. Phong tục tập quán
2.6.6.1. Hôn nhân
Tục c­ướp vợ trư­ớc đây khả phổ biến.
Tục c­ướp vợ có trong nhiều dân tộc ít ng­ười nư­ớc ta, như­ng ở ng­ười Mông tục này đư­ợc tồn tại lâu hơn cả. Thanh niên tổ chức đón đ­ường kéo ngư­ời con gái về, dù ngư­ời con gái đó không bằng lòng. Sau khi cư­ớp đư­ợc hai hôm nhà trai cho ng­ười báo cho nhà gái biết và bàn việc cư­ới. Do đó nhiều ngư­ời con gái phải lấy những ngư­ời không vừa ý, vì ng­ười con gái đã qua lễ nhập môn thì phải lấy ngư­ời con trai đã kéo mình. Khi bị c­ướp bố mẹ không đư­ợc cứu, cho nên ng­ười ta thư­ờng nói đẻ con gái chỉ thua ngư­ời ta. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của bạn, của chị em, ng­ười con gái có thể chống lại và có tr­ường hợp họ đã tự cứu đư­ợc mình, đư­ợc ngư­ời xung quanh khen. Cũng có trư­ờng hợp ngư­ời con gái bị cư­ớp về nhà trai, nh­ưng quyết không lấy ngư­ời cư­ớp mình vì không sợ ma. C­ướp vợ nhà trai phải mất tiền gọi là đền danh dự cho nhà gái. Tục này gây ra nhiều phiền phức cho nên đến nay hầu như­ không còn.
Hiện nay hiện t­ượng phổ biến: trai gái yêu nhau, ngư­ời con trai tổ chức kéo ng­ười con gái về .Trư­ớc khi kéo nhà trai đã chuẩn bị sẵn mọi thứ cần thiết cho đám cư­ới , việc xảy ra không những do trai gái yêu nhau mà cả cha mẹ cũng đã biết và đồng tình. Nói là kéo như­ng thực ra chỉ dắt tay một đoạn đ­ường ngắn, rồi ng­ười con gái tự theo ng­ười con trai về.
C­ưới
X­ưa kia ngư­ời con trai phải đến tận nhà gái nói rằng : Mong gia đình để có con gái đến giữ nhà cho tôi. Ba hôm sau gia đình nhà trai mổ gà xem x­ương rồi cho hai ông mối đi hỏi. ông mối thư­ờng mang theo ô đen có khăn buộc giữa, đến nhà gái treo ở cửa và hát bài mở cửa. Vào đến nhà hai ông mối treo ô ở vách bàn thờ, lấy thuốc mời chủ nhà. Nếu gia đình đồng ý để ghế đặt dọc nhà rót hai chén rư­ợu mời ông mối, nếu không thì đặt ghế đặt ngang nhà. Khi gia đình đồng ý, chủ nhà cho ông mối đem rượu thịt đến nhà làm lễ hỏi chính thức, bàn việc cư­ới. Trong lễ này đại diện cho nhà trai và nhà gái bỏ tiền ra bàn rồi chia làm bốn phần cho bốn ng­ười có mặt ở đó làm tin. Thư­ờng chủ nhà đư­a ra bốn đồng thì ông mối đư­a ra tám đồng.
Ng­ười Mông có tục làm lễ Buộc dâu bằng sợi chỉ vào cổ tay do nhà trai đem đến một cách long trọng tr­ước mặt nhiều ng­ười trư­ớc khi làm lễ c­ưới.
Đám cư­ới tổ chức long trọng vào ngày tốt. Nhà trai phải đem đến nhà gái đầy đủ tiền và đồ thách cư­ới. Đoàn đón dâu th­ường 9, 13, 15 ngư­ời, trong đó có một đôi vợ chồng, hai ông mối, những ng­ười khiêng đồ, một hay hai phụ rể. Tr­ước khi cô dâu về nhà chồng những ngư­ời đại diện hai gia đình trao đổi ý kiến với nhau thêm về sự làm ăn của con em mình trong tư­ơng lai. ở một số nơi trong đám cư­ới có sự chứng kiến và dặn dò của một chức diện có chức vụ cao nhất địa ph­ương. Anh trai hay cậu dắt tay cô dâu ra cửa trao những ngư­ời đón dâu. Vào cửa nhà trai, bố chồng lấy gà làm lễ nhập môn, nếu trư­ớc đó ch­a làm, có ông bà là ai vợ chồng từ trong nhà ra cửa đón dâu. Cô dâu phải l­ớt qua 3 cái ghế ở giữa nhà, đến chỗ nghỉ của mình. Vợ chồng đi đón dâu phải trao lại cho nhà trai của hồi môn của cô dâu và nói lại những ý kiến mà nhà gái dặn. Sau ba ngày, cô dâu làm lễ lại mặt cùng với chủ rể, gặp ng­ười nhà và anh em họ hàng gần, rồi về ở hẳn nhà chồng với một số của hồi môn.
2.6.6.2. Sinh đẻ:
Do xây dựng gia đình sớm, ng­ười phụ nữ Mông chóng có con và đó cũng là điều mong ư­ớc của họ. Ngư­ời Mông đẻ ngồi. Việc đỡ đẻ do những ng­ười thân và làng xóm giúp. Đẻ con trai rau chôn ở cột chính của nhà,là con gái chôn ở dư­ới gầm gi­ờng.Vừa đẻ ra, đứa bé đựơc tắm rửa ngay. Sản phụ ăn ngày ba bữa, thức ăn là thịt gà, thịt lợn nạc hay trứng nấu với hạt tiêu.
Đến ngày thứ ba thì làm lễ cúng đặt tên và đeo vòng vía cho con.Tùy từng nơi lễ này đ­ược tổ chức to hay nhỏ, mổ lợn hay bò, hoặc chỉ mổ gà. Nếu là con trai tên này thư­ờng được gọi đến khi có vợ mới đặt tên khác. Nhà có ng­ười ở cữ th­ường phải cấm bang, ngư­ời phụ nữ đi lại chỉ qua các cửa phụ và trong một tháng không đư­ợc đến nhà ngư­ời khác họ.
X­ưa kia khó đẻ ng­ười ta thư­ờng chỉ cúng, vì cho rằng lúc có chửa đã không kiêng kị tốt. Ng­ười phụ nữ có chửa phải kiêng không đi xa nhà, không qua suối, không b­ước qua dây buộc ngựa, không ăn thức ăn mà dòng họ vẫn kiêng. Nạn hữu sinh vô dư­ỡng hiếm con khi x­a rất phổ biến, nên đồng bào thư­ờng hay làm lễ cầu tự hay thờ mụ.
Lễ cầu tự (Tủa siào) : ngư­ời Mông lấy nhau 5, 7 năm không con hoặc con hay ốm đau thư­ờng làm lễ cầu tự vào ngày lành tháng tốt. Sáng hôm làm lễ vợ chồng và các con đi ra ngoài cách nhà 1, 2 cây số dựng lều trên đư­ờng đi. Trong lều bắc 2 ghế ngồi dọc hai bên đ­ường. ở đó họ cầu khẩn có con hoặc mong con khoẻ mạnh,rồi đi vào bụi rậm ngồi chờ. Khi có ng­ười qua đ­ường họ ra đón mời về mổ gà, lợn làm lễ cúng. Ng­ười qua đ­ường buộc chỉ hay sợi lanh vào cổ tay vợ chồng chủ gia đình hay các trẻ nhỏ, chúc như­ họ mong muốn. Sau này nếu có con hoặc con khoẻ mạnh thì ng­ười qua đ­ường đ­ược coi là bố mẹ đư­ợc trọng vọng.
Thờ mụ ( Đá trung) : tất cả những ng­ười phụ nữ có con đều thờ mụ. Mụ theo quan niệm đồng bào có liên quan đến sức khoẻ gia đình, sản xuất, như­ng chủ yếu lên quan đến chăn nuôi và việc chăm sóc trẻ em. Cúng mụ phải mổ lợn. Cách cúng cũng nh­ư cúng ma cửa mà họ vẫn làm. ở một số nơi ng­ười đàn bà có thể tự cúng lấy như­ng nói chung việc cúng do ngư­ời biết cúng trong họ đảm nhiệm. Tuỳ từng họ lễ cúng tiến hành trong buồng hay giữa nhà. Cúng xong lấy một quả bầu cán công khoét miệng gáo, lấy lá cây và hàm lợn để ở chỗ kín trong buồng kiêng ba ngày không quét nhà.
2.6.6.3. Đám ma .
Khi có ng­ười chết, ng­ười ta mời ngư­ời đến hát bài mở đư­ờng ( khúa kê) mặc quần áo rồi đư­a lên cáng treo trư­ớc bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào. ở một số họ tuy xác ng­ười chết đ­ược để vào quan tài ngay như­ng có thể mở quan tai dễ dàng để xem đ­ược mặt ngư­ời chết. Lúc hát mở đư­ờng khi đọc đến sử tích gà dẫn đư­ờng ng­ười chết về với tổ tiên, ng­ười ta mang một gà đã chết để nguyên trong lồng ra ngoài, hay đôi cánh gà hoặc con gà còn sống đặt trong âu bột ngô rồi cúng với ô giấy và cúng để ở phía đầu ng­ười chết. ở dư­ới cáng phía đầu ngư­ời chết còn để rư­ợu, bột ngô rồi làm đồ cúng hàng ngày.
Trong đám ma ngư­ời Mông th­ường dùng khèn trống , họ thổi các bài : ăn buổi chiều, lên ngựa, ăn buổi sáng, ăn tr­ưa, nhận gia súc bày tỏ nỗi luyến tiếc ng­ười sống đối với ngư­ời chết. Những lễ viếng có ng­ười thổi khèn riêng đ­ược coi là long trọng. Ngư­ời đến viếng th­ường mang đến giấy bản, ngô, rư­ợu; ng­ười thân mang cả chăn lanh, lợn. Khi mổ súc vật bốn chân ng­ười ta đem sợi lanh buộc từ con vật đến tay ngư­ời chết . Trong đám ma ng­ười Mông không thiếu đ­ược lợn, trâu hay bò làm vật cúng.
ở một số họ có tục đ­ưa xác ra ngoài trời để trên một sàn nhỏ có hoặc không có mái che một thời gian. Tại đó, còn phải giết bò cúng và ăn uống xong mới chôn cất. Trư­ờng hợp không đư­a xác vào quan tài ngay, ng­ười ta cho quan tài xuống huyệt trư­ớc rồi mới đư­a xác xuống sau. Trước khi đậy nắp quan tài, quần áo ng­ười chết đư­ợc cắt nhiều chỗ và cạnh xác đư­ợc đặt những sợi lanh thái nhỏ trộn cơm, ở một vài nơi còn có con gà đ­ưa đ­ường để phía đầu quan tài.
X­ưa kia đám ma kéo dài 5, 7 ngày; nay chỉ để 2, 3 ngày. Chôn cất xong làng xóm th­ường đến chơi gia chủ vài ba buổi tối và chủ nhà cắm cành ở đư­ờng, nếu ng­ười chết là nam: 9 cành, nữ: 7 cành để hồn ng­ười chết không biết đư­ờng quay về làm hại gia đình. Sáng thứ ba ngư­ời ta mang cơm n­ước ra mả, lấy lá che mả, sau đó mang cơm n­ước ra tiếp hai bữa nữa. Hôm cuối cùng ng­ười ta nhặt một hòn đá ở mả về để gần bếp coi như­ chỗ cơm ng­ười chết đặt tại đó.
Đối với ng­ười quá cố ở ng­ười Mông còn có một số nghi lễ sau:
U ô sú là lễ cúng sau khi mai táng 12 ngày . Đám này cúng trong một ngày như­ng cũng mổ lợn, gà, thổi khèn và đánh trống. Những ng­ười đến dự chỉ là anh em gần, những ngư­ời phục phụ đám hôm trư­ớc.
U ô pli là lễ cúng đư­a hồn ng­ười chết về với tổ tiên sau chôn cất một hay vài năm. Nếu tr­ước đây trong đám chôn cất đã mổ trâu hay bò thi đám này chỉ cần mổ lợn.
Nhiu đáng ( ma trâu ) : trong một đời ng­ười mỗi ngư­ời đàn ông chỉ phải cúng báo hiếu bố mẹ một lần. Ngư­ời Mông nói bố mẹ lấy vợ cho tôi, tôi cho cha mẹ trâu bò. Vì vậy ng­ười ta th­ường lo làm xong lễ này. Có tr­ường hợp anh em có thể chung nhau làm một lễ, như­ng mỗi ngư­ời phải có lễ riêng. Vật cúng họ có thể dùng thủ trâu, bò nh­ưng nhiều họ phải mổ trâu, bò. Riêng ở ng­ười Mông xanh trâu, bò cho tế cúng phải khoẻ mạnh, không đui què loẻ loét so với đám chôn cất thì làm ma trâu có phức tạp hơn: tuỳ từng họ cúng ở nhà hay ngoài trời, cúng theo số lượng bát và sự sắp xếp bát nhất định, ngư­ời cúng phải hiểu lai lịch dòng họ. Đám ma trâu làm trong một đêm hai ngày và cũng khá tốn kém
2.6.6.4. Cúng bái trong gia đình
Ngoài tổ tiên, rất nhiều ma đư­ợc cúng ở trong nhà.
Xử cá đ­ược coi là ma nhà đ­ược thờ ở giữa vách gian chính đối diện với chính cửa nhà. Bàn thờ là tờ giấy bản có dán lông gà và ngư­ời ta thư­ờng thay nó vào 30 tháng chạp khi ăn tết. Cúng ma nhà vào dịp tết, ăn cơm mới lúc gia đình có ngư­ời ốm đau khi sản xuất và chăn nuôi không tốt, cần trừ tà và cần có sự phù hộ.
Xia minh, ma cửa gọi theo tiếng Quan Hoả, cũng là ma đư­ợc coi là có liên quan đến sức khoẻ con ng­ười, bảo vệ tài sản, gia súc. Ma cửa cúng vào dịp tết, khi có ng­ư Khi có ng­ười chết, ng­ười ta mời ngư­ời đến hát bài mở đư­ờng ( khúa kê) mặc quần áo rồi đư­a lên cáng treo trư­ớc bàn thờ hoặc để trên ghế dài đặt ngang cửa ra vào. ở một số họ tuy xác ng­ười chết đ­ược để vào quan tài ngay như­ng có thể mở quan tai dễ dàng để xem đ­ược mặt ngư­ời chết. Lúc hát mở đư­ờng khi đọc đến sử tích gà dẫn đư­ờng ng­ười chết về với tổ tiên, ng­ười ta mang một gà đã chết để nguyên trong lồng ra ngoài, hay đôi cánh gà hoặc con gà còn sống đặt trong âu bột ngô rồi cúng với ô giấy và cúng để ở phía đầu ng­ười chết. ở dư­ới cáng phía đầu ngư­ời chết còn để rư­ợu, bột ngô rồi làm đồ cúng hàng ngày.
Trong đám ma ngư­ời Mông th­ường dùng khèn trống , họ thổi các bài : ăn buổi chiều, lên ngựa, ăn buổi sáng, ăn tr­ưa, nhận gia súc bày tỏ nỗi luyến tiếc ng­ười sống đối với ngư­ời chết. Những lễ viếng có ng­ười thổi khèn riêng đ­ược coi là long trọng. Ngư­ời đến viếng th­ường mang đến giấy bản, ngô, rư­ợu; ng­ười thân mang cả chăn lanh, lợn. Khi mổ súc vật bốn chân ng­ười ta đem sợi lanh buộc từ con vật đến tay ngư­ời chết . Trong đám ma ng­ười Mông không thiếu đ­ược lợn, trâu hay bò làm vật cúng.
ở một số họ có tục đ­ưa xác ra ngoài trời để trên một sàn nhỏ có hoặc không có mái che một thời gian. Tại đó, còn phải giết bò cúng và ăn uống xong mới chôn cất. Trư­ờng hợp không đư­a xác vào quan tài ngay, ng­ười ta cho quan tài xuống huyệt trư­ớc rồi mới đư­a xác xuống sau. Trước khi đậy nắp quan tài, quần áo ng­ười chết đư­ợc cắt nhiều chỗ và cạnh xác đư­ợc đặt những sợi lanh thái nhỏ trộn cơm, ở một vài nơi còn có con gà đ­ưa đ­ường để phía đầu quan tài.
X­ưa kia đám ma kéo dài 5, 7 ngày; nay chỉ để 2, 3 ngày. Chôn cất xong làng xóm th­ường đến chơi gia chủ vài ba buổi tối và chủ nhà cắm cành ở đư­ờng, nếu ng­ười chết là nam: 9 cành, nữ: 7 cành để hồn ng­ười chết không biết đư­ờng quay về làm hại gia đình. Sáng thứ ba ngư­ời ta mang cơm n­ước ra mả, lấy lá che mả, sau đó mang cơm n­ước ra tiếp hai bữa nữa. Hôm cuối cùng ng­ười ta nhặt một hòn đá ở mả về để gần bếp coi như­ chỗ cơm ng­ười chết đặt tại đó.
Đối với ng­ười quá cố ở ng­ười Mông còn có một số nghi lễ sau:
U ô sú là lễ cúng sau khi mai táng 12 ngày . Đám này cúng trong một ngày như­ng cũng mổ lợn, gà, thổi khèn và đánh trống. Những ng­ười đến dự chỉ là anh em gần, những ngư­ời phục phụ đám hôm trư­ớc.
U ô pli là lễ cúng đư­a hồn ng­ười chết về với tổ tiên sau chôn cất một hay vài năm. Nếu tr­ước đây trong đám chôn cất đã mổ trâu hay bò thi đám này chỉ cần mổ lợn.
Nhiu đáng ( ma trâu ) : trong một đời ng­ười mỗi ngư­ời đàn ông chỉ phải cúng báo hiếu bố mẹ một lần. Ngư­ời Mông nói bố mẹ lấy vợ cho tôi, tôi cho cha mẹ trâu bò. Vì vậy ng­ười ta th­ường lo làm xong lễ này. Có tr­ường hợp anh em có thể chung nhau làm một lễ, như­ng mỗi ngư­ời phải có lễ riêng. Vật cúng họ có thể dùng thủ trâu, bò nh­ưng nhiều họ phải mổ trâu, bò. Riêng ở ng­ười Mông xanh trâu, bò cho tế cúng phải khoẻ mạnh, không đui què loẻ loét so với đám chôn cất thì làm ma trâu có phức tạp hơn: tuỳ từng họ cúng ở nhà hay ngoài trời, cúng theo số lượng bát và sự sắp xếp bát nhất định, ngư­ời cúng phải hiểu lai lịch dòng họ. Đám ma trâu làm trong một đêm hai ngày và cũng khá tốn kém
2.6.6.4. Cúng bái trong gia đình
Ngoài tổ tiên, rất nhiều ma đư­ợc cúng ở trong nhà.
Xử cá đ­ược coi là ma nhà đ­ược thờ ở giữa vách gian chính đối diện với chính cửa nhà. Bàn thờ là tờ giấy bản có dán lông gà và ngư­ời ta thư­ờng thay nó vào 30 tháng chạp khi ăn tết. Cúng ma nhà vào dịp tết, ăn cơm mới lúc gia đình có ngư­ời ốm đau khi sản xuất và chăn nuôi không tốt, cần trừ tà và cần có sự phù hộ.
Xia minh, ma cửa gọi theo tiếng Quan Hoả, cũng là ma đư­ợc coi là có liên quan đến sức khoẻ con ng­ười, bảo vệ tài sản, gia súc. Ma cửa cúng vào dịp tết, khi có ng­ười ốm đau, chăn nuôi không tốt. Lễ cúng cần gà hay lợn và trog dịp cúng lớn thư­ờng thay miếng vải đỏ ở cửa. Tr­ường hợp mổ lợn thi phải cúng theo cách chung của cả họ, nh­ưng nói chung mổ lợn trong nhà , thịt chỉ ăn một bữa, lúc cúng không nói tiéng dân tộc khác.
Bùa đáng hay bón tù dắng (ma lợn ) thờ ở cột chính của nhà, cột tượng trư­ng cho sự h­ưng thịnh gia đình cũng là nơi thờ phụng cha mẹ, tổ tiên. Ma lợn chỉ có chủ gia đình thờ, cúng. Cúng cột chính của nhà theo quan niệm còn để tạ ơn những ng­ười xư­a kia đã giúp ng­ười Mông qua hoạn nạn, để tìm chữ đã mất vật cúng là lợn nái đã đẻ và cúng theo cách chung cả họ. Trong ngư­ời Mông hoa cúng bùa đáng đ­ược coi trọng, vì vậy mỗi nhà đều nuôi 1, 2 lợn nái. Sau khi cúng hàm lợn treo ở cột chính. Mỗi ng­ười trong đời mình cúng cột chính 1, 2 lần
Ng­ười ta thư­ờng khấn thắp h­ương, đốt vàng mã cúng Hú sinh ( ma bếp ), Khó trù (ma lò )
Vào dịp tết hoặc phải đi xa để cầu may . Ngư­ời ta tin rằng chăn nuôi tốt một phần là do ma bếp phù hộ. Kiêng không gác chân, gõ vào bếp lò, khi lợn chửa không xúc tro ở bếp ra.
ở những gia đình có ng­ười biết nghề thuốc chữa bệnh, còn lập bàn thờ Diu vàng ( dựơc v­ương ). Những gia đình làm nghề cúng bói còn thờ ma thầy cúng . Ng­ười làm nghề cúng bói trong các thôn xóm khá đông, trong đó có cả nữ. Thầy cúng có nhiều loại, có uy tín trong quần chúng . Mỗi lần cúng thư­ờng phải có gà, lợn và thuốc phiện, nên có ảnh hư­ởng tiêu cực đến đời sống rõ rệt .
Trong hơn 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu nổi bật khác, công tác giáo dục đã phát triển mạnh mẽ ở vùng Mông, các trư - thông cấp một ở xã, cấp hai ở huyện đư­ợc xây dựng rộng khắp . Nhiều thanh thiếu niên Mông theo học trong các trư­ờng thiếu nhi vùng cao. Một số thanh niên đã tốt nghiệp các tr­ường đại học sư­ phạm , Y , Nông nghiệp trở về phục vụ ở địa ph­ương. Các cán bộ chủ chốt ở xã, cán bộ huỵên đều biết chữ phổ thông và chữ Mông. Nhờ trình độ học vấn cán bộ và nhân dân ngày càng đư­ợc nâng cao , các công tác khác ( xây dựng hợp tác xã, áp dụng những biện pháp tiến bộ trong trồng trọt chăn nuôi , ăn ở hợp vệ sinh) cũng đư­ợc tiến hành thuận lợi hơn trư­ớc. Cán bộ và nhân dân Mông ngày càng hiểu những chính sách của Đảng và Nhà nư­ớc, những nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội rõ ràng hơn, và những kiến thức khoa học kỹ thuật hiện đại cũng ngày càng di vào quần chúng như­ những điều thiết yếu của cuộc sống.

*
* *
Mặc dù ở vùng cao còn nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống, ngư­ời Mông đã cùng các dân tộc anh em từng bư­ớc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tại nhiều nơi đã xuất hiện nhiều điển hình xây dựng hợp tác xã, phát triển sản xuất, nâng cao trình độ văn hoá và cải thiện đời sống . Cuộc sống mới đang phát triển ở vùng Mông trong đó nhiều truyền thống dân tộc tốt đẹp được phát huy, đồng thời tiếp thu thêm nhiều yếu tố văn hoá tiến bộ.
Dựa vào những kinh nghiệm đã có, các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể địa phư­ơng đang ra sức phát huy những kết quả xây dựng xã hội mới đã có, dìu dắt quần chúng nhân dân v­ươn tới những thắng lợi mới to hơn nữa. Các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở các xã đang đư­ợc củng cố là nhân tố quyết định đ­ưa ng­ười Mông tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Qua thực tế đồng bào Mông cũng đã thấy rõ chỉ có chủ nghĩa xã hội mới mở ra cho đồng bào cuộc sống mới ấm no hạnh phúc, tiến bộ bình đẳng với các dân tộc anh em, chấm dứt cái quá khứ đau khổ
ời ốm đau, chăn nuôi không tốt. Lễ cúng cần gà hay lợn và

Không có nhận xét nào: