Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009

đặc điểm các hoạt đọng văn hoa

Câu 4: Đặc điểm của hoạt động văn hóa? Phân tích yêu cầu của quản lý nhà nước về văn hóa?
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, qua sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Văn hoá luôn hiện thân trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của xã hội, nó quy định phong cách tư duy, phương thức hành động, lối sống, nó cũng quy định hiệu quả và chất lượng hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân. Khi tìm hiểu về văn hóa thì hoạt động văn hóa là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm.
Muốn nghiên cứu đặc điểm hoạt động của văn hóa, trước tiên phải có một khái niệm chính xác và nhất quán về hoạt động văn hóa cũng như cấu trúc của nó. Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị về vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, qua sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Như vậy từ cách hiểu về văn hóa, hoạt động văn hóa chính là sự khách thể hóa văn hóa, là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của văn hóa. Hay nói cách khác hoạt động trực tiếp tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho con người gọi là hoạt động văn hóa. Thông qua hoạt động văn hóa thì con người mới có thể nhận thức được văn hóa.
Hoạt động văn hóa được chia làm 4 nhóm chính, đó là:
- Hoạt động văn hóa nghệ thuật gồm có: phim ảnh, sân khấu, ca nhạc;
- Hoạt động văn hóa xã hội: lễ hội, phong tục, tập quán;
- Hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình;
- Các hoạt động văn hóa khác: thư viện, bảo tàng, di tích lịch sử….
Tìm hiểu về hoạt động văn hóa, ta nhận thấy hoạt động văn hóa có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động văn hóa tạo ra sản phẩm văn hóa, mỗi sản phẩm văn hóa đều mang tính hai mặt, đó là sản phẩm về tinh thần đồng thời cũng là sản phẩm hàng hóa, nhưng hai yếu tố này không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau.
- Là sản phẩm về tinh thần: Văn hóa không phải tự nhiên mà có mà nó chỉ ra đời khi có sự sáng tạo của con người. Hoạt động văn hóa cũng vậy, nó chỉ ra đời khi con người có nhu cầu. Hoạt động văn hóa cũng bao gồm tất cả những giá trị về tinh thần và vật chất do con người sáng tạo ra. Thông qua những hoạt động văn hóa con người có thể được giáo dục làm theo những chuẩn mực nhất định của xã hội, nó trang bị cho con người những tri thức cần thiết, nó dẫn dắt con người đến những giá trị tình cảm, hướng con người tới cái đẹp và đáp ứng nhu cầu giải trí của con người. Tất cả những chức năng ấy của hoạt động văn hóa đều hướng tới đời sống tinh thần của con người. Ví dụ như hoạt động thư viện giúp cho con người tự nâng cao năng lực, nhận thức về cuộc sống, mở rộng kiến thức…Hoạt động bảo tàng, di tích lịc sử giúp con người hiểu hơn về những truyên thống vẻ vang của dân tộc, từ đó giáo dục cho con người về tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, dũng cảm, sự tự hào về sức mạnh dân tộc…
- Là một sản phẩm hàng hóa. Trong mọi sản phẩm văn hóa đều mang giá trị hay đó chính là tính giá trị của văn hóa, giá trị đó có thể là giá trị vật chất hay giá trị tinh thần. Tính giá trị đó có thể được con người định lượng, bởi vậy mà hoạt động văn hóa có thể trở thành một loại hàng hóa, là một loại sản phẩm có thể sinh lợi nhuận. Ví dụ như một bức tranh được vẽ bởi một họa sĩ, đó là một hoạt động sáng tạo của con người, là một hoạt động văn hóa. Khi bức tranh đó được sáng tạo ra, nó vừa mang ý nghĩa tinh thần đồng thời nó cũng có thể là một sản phẩm văn hóa khi bức tranh ấy được đem đi bán.
Thật khó để có thể phân biệt rạch ròi đâu là sản phẩm vật chất, đâu là sản phẩm tinh thần. Mặt khác, không có sản phẩm tinh thần nào lại không được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định và cũng như không có một sản phẩm vật chất nào lại không mang trong nó những giá trị tinh thần. Những nhà cửa, đường phố, cầu cống, và ngay cả những sản phẩm công nghiệp sản xuất hàng loạt, cũng là hiện thân của những giá trị văn hóa, thể hiện bản sắc dân tộc, trí tuệ và tài năng của những người làm ra chúng.
Nhưng không phải lúc nào hai yếu tố đó của sản phẩm văn hóa cũng đi cùng với nhau. Văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo. Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại. Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị. Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá ( bom hạt nhân, heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người v.v…). Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng v.v… tuy không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó cũng là văn hoá.
Thứ hai, hoạt động văn hóa có phạm vi hoạt động rộng và tác động đến mọi thành phần xã hội. Hoạt động văn hóa có phạm vi hoạt động trên một không gian rộng, nó có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi, trên một địa phương hay trên phạm vi lãnh thổ toàn quốc gia. Đồng thời hoạt động văn hóa tác động đến mọi thành phần của xã hội.
Nguyên nhân của hiện tượng này cũng chính là do phạm vi hoạt động rộng của hoạt động văn hóa. Những hoạt động văn hóa khi diễn ra dù ở dưới hình thức nào cũng tác động đến rất nhiều đối tượng từ người nông dân đến tầng lớp trí thức, từ người trẻ tuổi đến người già….Trong xã hội không ai là không chịu tác động của văn hóa.
Đặc điểm này rất dễ nhận biết trong một số hoạt động như hoạt động báo chí, hoạt động phát thanh hay truyền hình. Phạm vi hoạt động của những loại hoạt động văn hóa trên là rất rộng, trên mọi lĩnh vực của đời sống như chính trị, kinh tế, xã hội và trên phạm vi cả quốc gia. Hay trong một hoạt động lễ hội truyền thống không chỉ có tác động đến người già mà mà cũng có tác động to lớn tới việc giáo dục các thế hệ mai sau như tầng lớp thanh thiếu niên trẻ nhỏ...và nó được sự hưởng ứng của mọi tầng lớp nhân dân từ công nhân, nông dân, trí thức doanh nhân, nhà khoa học...xuất thân từ mọi tầng lớp khác nhau.
Thứ ba, tính đa dạng và phong phú của hoạt động văn hóa.
Nguyên nhân dẫn tới đặc điểm trên trước hết là do nước ta là một quốc gia có lãnh thổ trải dài, tiếp giáp với nhiều quốc gia, chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây… Hơn nữa với dân số đông, nhiều thành phần dân tộc, mỗi một dân tộc lại có những hoạt động văn hóa khác nhau. Ngoài ra, hoạt động văn hóa diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội hình thành nhiều loại hình văn hóa khác nhau như văn hóa giao tiếp, văn hóa công sở, văn hóa doanh nghiệp…và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Tất cả những lý do trên đã hình thành nên sự đa dạng và phong phú của hoạt động văn hóa.
Biểu hiện của đặc điểm này đó là: Hoạt động văn hóa đã được chia ra thành 4 nhóm lớn, trong 4 nhóm có nhiều loại hình hoạt động văn hóa khác nhau, trong mỗi loại hình có thể chứa nhiều nội dung phản ánh khác nhau ví dụ như trong loại hình lễ hội. Dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển lịch sử cũng tạo nên nhiều lễ hội. Lễ hội mang nhiều ý nghĩa xã hội. Lễ hội góp phần khẳng định những nền nếp, đạo lý truyền thống qua những nghi lễ trang trọng. Lễ hội chứng minh cho sức sống của một cộng đồng và mang dấu ấn lịch sử văn hóa đậm nét. Tại Việt Nam có rất nhiều loại lễ hội khác nhau như lễ hội gắn với sự hình thành một dân tộc hay một vùng đất ( giỗ tổ Hùng Vương), lễ hội ca ngợi anh hùngViệt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước ( hội Gióng, hội đền Hai Bà, hội đền Kiếp Bạc…), lễ hội nhớ ơn các vị tổ các làng nghề ( hội chùa Dâu, chùa Keo…), lễ hội gắn liền với nghi thức tôn giáo, lễ hội gắn với sản xuất; lao động; thu hoạch, lễ hội gắn với sinh hoạt; vui chơi….
Một nét đặc biệt trong hoạt động văn hóa đó là người ta không thể so sánh được hoạt động văn hóa này có giá trị hơn hoạt động văn hóa khác và ngược lại. Bởi đó đều là những quá trình sáng tạo của con người, là sự kết tinh của nhiều yếu tố mà những yếu tố ấy rất khó lượng hóa. Hơn nữa mỗi một hoạt động văn hóa khác nhau lại có những tác động không giống nhau đến con người vì thế chúng ta không thể đem so sánh các hoạt động văn hóa với nhau.
Như chúng ta đã biết, các loại hình văn hóa ra đời phong phú và đa dạng cũng phần nhiều do nhu cầu của con người. Trong tất cả các hoạt động văn hóa bên cạnh những hoạt động mang ý nghĩa tích cực thì cũng còn không ít hoạt động mang tính tiêu cực như các hoạt động mê tín dị đoan, những hoạt động đi ngược lại với thuần phong mĩ tục của dân tộc.
Thứ tư, hoạt động văn hóa còn thiếu dữ liệu, nghiên cứu và số liệu thống kê cần thiết.
Trong đời sống xã hội có quá nhiều loại hình văn hóa diễn ra đồng thời một lúc và trên những phạm vi không gian rộng lớn, bởi vậy khó có thể có được những số liệu cụ thể về số lượng cũng như những giá trị của các hoạt động văn hóa. Đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, những đồng bào dân tộc thiểu số, nơi đó địa bàn rộng lại phức tạp, có rất nhiều loại hình văn hóa diễn ra, tuy nhiên chúng ta vẫn chưa có điều kiện thâm nhập tìm hiểu và nghiên cứu những hoạt động ấy.
Trong vấn đề quản lý văn hóa, chúng ta mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những loại hình văn hóa tiêu biểu điển hình tại một địa phương, hay một vùng lãnh thổ nào đó chứ chưa nghiên cứu hết toàn bộ các hoạt động văn hóa. Điều này dẫn đến tình trạng chúng ta không phát hiện kịp thời những hoạt động văn hóa tốt đẹp của nhiều đồng bào dân tộc, không có biện pháp gìn giữ và bảo tồn, sau một thời gian rất có thể những hoạt động văn hóa ấy sẽ phai nhạt hoặc mất đi. Vì vậy chúng ta phải lưu ý đến vấn đề này trong quản lý văn hóa.
Loài người đã nhận thức được sức mạnh tiềm tàng của văn hoá. Các nhà tư tưởng thời Trung đại, Phục hưng, khai sáng đề cao sức sống của văn hoá trong các hoạt động tinh thần, nhất là nghệ thuật. Trong thời đại khoa học công nghệ, thời đại trí tuệ, văn hoá càng giữ vai trò đặc biệt trong việc cung cấp tiềm năng sáng tạo cho người lao động. Chỉ trên nền văn hoá, chỉ khi chiếm lĩnh được văn hoá nhân loại, người ta mới có thể phát triển khả năng hoạt động, nhất là đối với sự phát triển các năng lực sáng tạo của cá nhân.
Từ những đặc điểm trên, hoạt động văn hóa đặt ra những yêu cầu đối với quản lý nhà nước:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về văn hóa và công tác tư tưởng gắn liền với quyền lực Nhà nước. Nhà nước ta thông qua chính phủ tiến hành quản lý trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có hoạt động văn hóa. Để có thể quản lý văn hóa một cách có hiệu quả thì cần phải gắn chặt với quyền lực Nhà nước. Biểu hiện của yêu cầu này đó là nhà nước ta đã hình thành được một bộ máy quản lý nhà nước thông suốt từ trung ương đến địa phương để quản lý các hoạt động văn hóa.
Thứ hai, tăng cường trách nhiệm của Nhà nước trong việc trực tiếp quản lý các công trình văn hóa ( công trình lịch sử cũng như công trình nghệ thuật) và những cơ sở phục vụ nhu cầu văn hóa của người dân. Đây có thể coi là những sản phẩm văn hóa của nhân dân nói chung vì vậy trách nhiệm quản lý và bảo vệ cũng thuộc về nhân dân. Tuy nhiên để đạt được sự thống nhất thì Nhà nước vẫn là lực lượng chính trong việc tiến hành xây dựng, bảo vệ và trùng tu các công trình đó.
Thứ ba, đối với hoạt động văn hóa đó là phải luôn đề cao giá trị tinh thần của nó, cần có những biện pháp khuyến khích cho các hoạt động văn hóa phát triển để đáp ứng nhu cầu của người dân. Nhưng đồng thời trong giai đoạn phát triển kinh tế cùng với quá trình hội nhập, Nhà nước ta cũng phải coi trọng đến giá trị hàng hóa của các hoạt động văn hóa, đây cũng có thể là một biện pháp khuyến khích các hoạt động văn hóa phát triển.
Thứ tư, Văn hóa thuộc về nhân dân, mọi người dân đều có quyền hưởng thụ văn hóa và có nghĩa vụ đóng góp bảo vệ và phát triển văn hóa, đảm bảo được tính đa dạng của văn hóa và đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân. Trong việc quản lý văn hóa, ngoài hình hình thức nhà nước ra, cần khuyến khích hình thức tự quản lý của nhân dân trong việc bảo vệ và phát triển văn hóa, bảo đảm được tính đa dạng của văn hóa và đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân.
Thứ năm, Nhà nước ta phải luôn chú trọng tới mọi đối tượng tác động của văn hóa từ đó có những quyết định phù hợp tạo điều kiện cho sự phát triển các hoạt động văn hóa, để hoạt động văn hóa trở thành phương tiện quản lý hiệu quả đạt mục đích của nhà nước. Thông qua các hình thức hoạt động văn hóa có thể tuyên truyền phổ biến các mục tiêu chính trị của Nhà nước và xã hội. Ví dụ để phát động phong trào đấu tranh chống ma túy, tệ nạn xã hội có thể thông qua các hội diễn văn nghệ, đài phát thanh, các băng rôn khẩu hiệu tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
Thứ sáu, trong quá trình quản lý các hoạt động văn hóa, Nhà nước phải khuyến khích phát triển hơn nữa các hoạt động văn hóa mang tính tích cực để có thể làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người dân. Tuy nhiên cần đảm bảo tính đa dạng nhưng thống nhất của nền văn hóa đa dân tộc.
Thứ bẩy, Văn hóa Việt Nam là văn hóa đa dân tộc, do đó cần có cơ quan riêng và cơ chế quản lý văn hóa riêng đối với các dân tộc thiểu số.
Thứ tám, Nhà nước phải đặc biệt chú ý đến vấn đề bảo tồn và phát triển văn hóa. Nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay, văn hóa nước ta đang dần hội nhập với nền văn hóa trong khu vực và trên thế giới theo phương châm hòa nhập nhưng không hòa tan. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, đáp ứng được những nhu cầu về tinh thần của người dân. Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa ở nước ta đang có nhiều thời cơ thuận lối song cũng đang đứng trước nhiều thách thức to lớn. Vì vậy cùng với việc nắm chắc thời cơ tận dụng thuận lợi chúng ta cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tinh thần chiến đấu dũng cảm vượt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Thứ chín, kết hợp thống nhất hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị xã hội trong hoạt động văn hóa.
Là kho tàng tri thức, là sức sống và bản lĩnh xã hội, văn hoá đã trở thành nền tảng và nguồn lực nội sinh của mọi hoạt động sống. Sự khám phá và sáng tạo cái mới, dù là trong lĩnh vực lý thuyết hay thực tiễn, chỉ có được trên cơ sở các thành tựu văn hoá. Chiếm lĩnh văn hoá là con đường và phương pháp tối ưu trong chiến lược xây dựng và phát triển con người nói chung, phát triển năng lực hoạt động sáng tạo của cá nhân nói riêng đối với nền giáo dục đào tạo của chúng ta hiện nay
Quan điểm công bằng và hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Các biện pháp để đạt được mục tiêu trên.
I. LÝ LUẬN CHUNG
1. Quan điểm công bằng và hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ y tế
Y tế là lĩnh vực hoạt động quan trọng, có vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội với nhiệm vụ trọng tâm là chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân. Hoạt động y tế góp phần quyết định cải thiện giống nòi, nâng cao thể lực nhân dân, nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho phát triển đất nước. Chính vì vai trò quan trọng đó mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát triển sự nghiệp y tế và đầu tư cho lĩnh vực này.
Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa IV) đã xác định rõ những quan điểm và mục tiêu cơ bản của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân. Một trong những mục tiêu quan trọng mà Đảng đề ra là : Thực hiện công bằng xã hội và đảm bảo hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Điều 61 Hiến pháp nước ta qui định : Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe, nhà nước qui định chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí. Công dân có nghĩa vụ thực hiện các qui định về vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng. Mọi công dân đều có quyền bình đẳng.
Mác cho rằng: Công bằng – không phải là sự cào bằng, bình quân chủ nghĩa. Công bằng xã hội thực chất là sự ngang bằng nhau giữa người và người về một phương diện hoàn toàn xác định: quan hệ giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ. Cống hiến ngang nhau thì hưởng thụ ngang nhau.
a. Công bằng :
Như vậy, công bằng xã hội là sự điều hoà các quan hệ phân phối, quan hệ lợi ích của cá nhân, các nhóm dân cư các tầng lớp xã hội...vừa theo nguyênn tắc phân phối theo lao động, mặt khác công bằng còn thể hiện ở mặt xã hội phải tạo ra những cơ hội và điều kiện như nhau cho sự phát triển năng lực của mọi thành viên cộng đồng. Công bằng vì vậy gắn liền với một chế độ chính trị, thái độ của giai cấp cầm quyền trong xã hội .
Công bằng trong tiếp cận các dịch vụ y tế thể hiện ở sự công bằng giữa các đối tượng hưởng thụ các dịch vụ y tế. Điều đó có nghĩa là tất cả mọi người dân ở mọi thành phần dân tộc, mọi lứa tuổi, mọi giai cấp tầng lớp, dù ở bất cứ vùng miền nào của tổ quốc cũng được đối xử bình đẳng như nhau trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Đó là sự công bằng trong việc phân bổ các nguồn lực : nguồn nhân lực, nguồn vật lực và nguồn tài chính.
Nguồn nhân lực chính là đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân.Công bằng trong việc phân bổ nguồn nhân lực tức là đội ngũ cán bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân phải đảm bảo sự phân bổ đồng đều giữa các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa với các tỉnh đồng bằng, giữa nông thôn và thành thị.
Nguồn vật lực bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế.
Nguồn lực tài chính bao gồm nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn tài chính từ xã hội.
b. Hiệu quả :
Hiệu quả là sự đầu tư kinh phái ở mức hợp lý và thu lại hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ y tế tức là việc đầu tư cho y tế ở mức độ hợp lý mà vẫn đem lại hiệu quả cao nhất.
2. Công bằng và hiệu quả là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành y tế
Đây là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành y tế bởi có thực hiện tốt mục tiêu này thì mới đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế và được chăm sóc sức khỏe một cách tốt nhất.
Y tế là hoạt động trực tiếp liên quan đến tính mạng, sức khỏe nhân dân, đến sự phát triển thể lực, giống nòi và ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội, bởi lẽ chỉ khi con người có sức khỏe tốt thì mới có điều kiện phát triển về trí lực và tâm lực để cống hiến cho xã hội. Sức khỏe tốt là một nhân tố cơ bản nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm dịch vụ và là một đòi hỏi bắt buộc đối với nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để đạt được mục tiêu trên phải đảm bảo công bằng và hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ y tế.
II. THỰC TRẠNG
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân giai đoạn 2001-2010 xác định : Thực hiện công bằng là đảm bảo cho mọi người đều được chǎm sóc sức khỏe cơ bản và từng bước được nâng cao, phù hợp với khả nǎng kinh tế của xã hội.
1.Thành tựu :
Trong những năm qua, ngành y tế đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc đảm bảo công bằng và hiệu quả trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
1.1. Kinh phí đầu tư cho y tế
Chính phủ đã ban hành nhiều Nghị định về việc cung cấp dịch vụ y tế miễn phí ở các cơ sở y tế công cộng tại những xã thuộc diện khó khăn, nơi hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Dịch vụ y tế miễn phí đã được áp dụng cho tất cả đồng bào dân tộc ở Tây Nguyên và sáu tỉnh miền núi phía Bắc.
Nguồn ngân sách Nhà nước chi cho hoạt động y tế tăng từ 4.98% năm 2002 lên 5.6% năm 2006 chiếm 60% nguồn tài chính chi cho hệ thống y tế công lập.
Theo điều tra của WHO, tất cả các xã của Việt Nam đều có một trạm y tế. Nhìn chung số lượng bệnh viện tỉnh, bệnh viện huyện và số giường bệnh ở các tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống cao hơn so với số trung bình của cả nước. Ở những vùng nông thôn, hầu hết mỗi thôn, bản đều có một nhân viên y tế. Nhiều địa phương có những sáng kiến khá hay để cải thiện việc tiếp cận dịch vụ y tế của người nghèo như :
Tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, nơi có phần lớn đồng bào Thái sinh sống, không có việc thu viện phí. Dù vậy, cán bộ y tế huyện rất nhiệt tình và luôn sẵn sàng phục vụ người bệnh.
Hay ở Cao Bằng, một vài bệnh viện huyện tồn tại được nhờ thu nhập từ bảo hiểm y tế cho người nghèo. Thuốc thiết yếu và dịch vụ y tế được cung cấp miễn phí cho tất cả người bệnh ở trạm y tế xã thuộc diện khó khăn, tất nhiên số lượng có hạn chế. Ở Tây Nguyên, dịch vụ y tế công cộng miễn phí cho tất cả đồng bào các dân tộc thiểu số.
Tỉnh Lào Cai, bảo hiểm y tế cho người nghèo chưa được áp dụng nhưng một hệ thống được thành lập để khuyến khích việc khám bệnh ở trạm y tế xã, một số trạm y tế khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho dân.
Người nghèo và các đối tượng hưởng chính sách xã hội được Nhà nước dùng ngân sách mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế nên việc tiếp cận dịch vụ y tế của những đối tượng này đã được cải thiện rõ rệt. Bảob hiểm y tế đã tạo ra nguồn tài chính công đáng kể cho công tác khám chữa bệnh, góp phần thực hiện mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Số người tham gia bảo hiểm y tế đã tăng từ 5,6% (năm 1993) lên 46% (năm 2008).
1.2 Công tác khám chữa bệnh
Công tác y tế dự phòng đạt được những kỳ tích: thanh toán, loại trừ nhiều dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trước đây như bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván sơ sinh, khống chế nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, chặn đứng đại dịch bệnh SARS, H5N1 và đang kết hợp với các ngành triển khai phòng chống dịch cúm A/H1N1 có hiệu quả.
Sức khỏe bà mẹ, trẻ em tiến bộ rõ rệt. Theo số liệu thống kê năm 2007, tỷ lệ chết trẻ em dưới 1 tuổi là 16%o, tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng dưới 2.500g là 5,1%, tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em cũng ngày càng giảm. Tuổi thọ người dân tăng đáng kể, bình quân là 72,84 tuổi.
1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật
Đến năm 2007, cả nước đã có 1.003 bệnh viện, 39 cơ sở điều dưỡng phục hồi chức năng, 825 phòng khám đa khoa và nhà hộ sinh khu vực, số giường bệnh công lập là 18,1 giường cho 10.000 dân..
Các bệnh viện đều được trang bị các loại máy móc dùng trong chẩn đoán và điều trị hiện đại như máy cộng hưởng từ, máy chụp mạch máu, máy tán sỏi ngoài cơ thể, máy siêu âm màu, máy xét nghiệm nhanh... Các công nghệ mũi nhọn của y học thế giới đang từng bước được ứng dụng ở nước ta như ghép tạng, mổ nội soi, mổ tim, mổ tách trẻ song sinh, thụ tinh nhân tạo...
Ngành dược và ngành trang thiết bị đã trở thành ngành kinh tế kỹ thuật. Chúng ta đã có 95 nhà máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, thị phần thuốc trong nước tăng nhanh, sản xuất được 50,2% giá trị sử dụng thuốc, góp phần ổn định thị trường.
Mạng lưới y tế cơ sở đã được xây dựng rộng khắp cả nước, từ trung ương đến địa phương với 11.544 trạm y tế xã, y tế cơ quan xí nghiệp.
Bên cạnh các cơ sở y tế Nhà nước, một hệ thống y tế tư nhân đã bắt đầu hình thành, nhiều bệnh viện tư có vốn đầu tư nước ngoài đã góp phần làm giảm bớt sự quá tải ở các bệnh viện Nhà nước.
Hiện nay, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và nhà nước ngành y tế đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáp ứng tốt hơn nhiều nhu cầu của nhân dân so với trước đây, tuổi thọ trung bình của người dân tăng rõ rệt, các vấn đề về dịch tễ, vệ sinh phòng bệnh được quan tâm thường xuyên. Sự phát triển không đồng đều về kinh tế ở các vùng miền đem lại sự xa cách nhau về tiếp cận các dịch vụ y tế .
1.4. Về đội ngũ cán bộ y tế
Chúng ta đã có một hệ thống các trường đại học y, dược phân bổ trên cả nước; mở nhiều trường đào tạo cán bộ y tế trung học y, dược, nha, đào tạo cán bộ trình độ cử nhân, chuyên khoa I, II, bác sĩ nội trú bệnh viện, thạc sĩ và tiến sĩ y học.
Từ chỗ chỉ có số ít cán bộ y tế vào những năm 50, 60 của thế kỷ XX, đến năm 2007 đã có trên 28 vạn cán bộ y tế, trong đó có 62.242 cán bộ đại học các loại và có trên 5.800 cán bộ sau đại học, năm 2008 có 290.000 cán bộ y tế đang công tác tại các cơ sở y tế công lập. Tính tỷ lệ bình quân hiện nay là 6,5 bác sĩ/1 vạn dân.
Nếu như năm 1945, số bác sĩ tính theo dân số mới có 1 bác sĩ cho 220.000 dân thì đến năm 2007, đã có 1 bác sĩ cho 1.551 dân; cuối năm 2007, đã có 67,38% số xã có bác sĩ.
Các chỉ tiêu sức khỏe nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Theo đánh giá của cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP), nước ta đứng vào hàng các nước có thành tựu nổi bật về y tế so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP).
2.Hạn chế
2.1. Sự mất công bằng trong các dịch vụ chăm sóc sức khỏe :
*Cơ sở vật chất
Trên thực tế, các tỉnh đồng bằng, đặc biệt là các tỉnh, thành phố lớn thường được đầu tư về hệ thống y tế nhiều hơn các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Có nơi một tỉnh miền núi có 8 bệnh viện cả chuyên khoa lẫn đa khoa, trong khi tỉnh khác chỉ có duy nhất một bệnh viện đa khoa và chỉ đạt bình quân 9,3 giường bệnh/10.000 dân, thấp hơn nhiều so với mức bình quân chung cả nước là 16 giường/10.000 dân. Đó là chưa kể tình trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế rất thiếu, không đồng bộ và cũ nát, có nơi máy móc phục vụ khám chữa bệnh gần 50... tuổi, già hơn cả tuổi cán bộ y tế.
Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh phân bổ chưa hợp lý, tình trạng quá tải ở nhiều bệnh viện tuyến trên khá nặng nề.
Tại Bệnh viện Việt - Đức, sự quá tải lúc nào cũng thường trực, mỗi giường bệnh phải "gánh" từ 2-3 bệnh nhân, nhất là ở những khoa như: Chấn thương chỉnh hình, Phẫu thuật tiết niệu, Thần kinh, Khoa Nhi (vào mùa hè)... luôn được coi là "sốt" giường bệnh. Lại còn mổ cấp cứu, trung bình mỗi ngày 20 ca. Với số lượng bệnh nhân quá đông, song nhân lực ở Bệnh viện lại chỉ có 300 bác sĩ, 90 người trợ giúp chăm sóc và hơn 600 điều dưỡng viên và kỹ thuật viên. Nhân lực không đủ để đáp ứng công việc.
- Chi ngân sách: chỉ trong vòng 5 năm (2001-2005) mặc dù Ngân sách Nhà nước đã tăng chi cho y tế từ 5 USD lên khoảng 10 USD/ người, song nếu tính chi phí y tế cho mỗi cá nhân thì phần chi của nhà nước mới chỉ đảm bảo khoảng hơn 20%, còn lại là do gia đình có người ốm tự chi trả.
Điều này là một trong những lý do khiến các tổ chức quốc tế xếp VN đứng vị trí 187/191 (gần chót bảng) về tình trạng công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Việt Nam hiện vẫn là nước được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “báo động” về mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe vì người dân đang phải chi trả tới 73% chi phí khám chữa bệnh.
* Đội ngũ cán bộ y tế:
Việc phân bổ đội ngũ cán bộ y tế giữa các vùng miền cũng chưa hợp lý. Yêu cầu đặt ra tối thiểu: tỉ lệ y tá/bác sĩ phải đạt 2,5, nhưng thực tế bình quân ở các bệnh đội ngũ cán bộ y tế đang thiếu nghiêm trọng về cơ cấu, số lượng, cũng như thiếu cán bộ chuyên sâu, cán bộ đầu ngành, đặc biệt ở khu vực miền núi, vùng khó khăn, tỉ lệ này chỉ đạt..1,5 (trong đó tuyến trung ương đạt 1,22, tuyến tỉnh đạt 1,56)”.
Gia Lai hiện chỉ có 4,1 bác sĩ/1 vạn dân (cả nước là 6,3). Điều này dẫn đến tình trạng nhiều bệnh viện thiếu cán bộ, quá tải công việc. Nhiều bác sỹ sẵn sàng đền bù hàng chục triệu cho chi phí đào tạo để nghỉ việc và đầu quân đến cơ sở y tế tư nhân với thu nhập cao, đẩy y tế công lập đến tình trạng khát nhân lực.
Huyện Thanh Liêm (Hà Nam) 10 năm nay chỉ có bác sĩ đi chứ không có bác sĩ về. Đến nay đang thiếu trên 30 người. Tỉnh Hải Dương còn thiếu gần 600 cán bộ y tế. Với một tỉnh có dân số 1,6 triệu người nhưng Đồng Tháp hiện chỉ có 3.697 cán bộ y tế, còn thiếu gần 1.000 so với biên chế được giao. Cả tỉnh chỉ có 708 bác sĩ, tỷ lệ 4,2 bác sĩ/1 vạn dân.
Có tới 60% các bác sỹ “công” đang làm việc cho các cơ sở y tế tư, các bác sỹ miền núi thì “chạy” về miền xuôi. Ngay tại TP.HCM, một trung tâm y tế lớn có tới 10 bệnh viện Trung ương, 30 bệnh viện thành phố và 24 bệnh viện quận, huyện nhưng chỉ có 3.300 bác sỹ, tính ra còn thiếu tới 2.000 bác sỹ.
* Cùng với đó, sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng các dịch vụ y tế, đặc biệt là dịch vụ y tế tại các bệnh viện công giữa các nhóm thu nhập trong nước vẫn chưa có sự cải thiện. Hiện, nhóm 20% người giàu nhất có thu nhập gấp 8,1 lần so với nhóm 20% người nghèo nhất và gấp 4,8 lần nhóm cận nghèo. Mặc dù, số lượt sử dụng y tế chung của các nhóm không có sự khác biệt nhiều, nhóm người giàu nhất bằng 1,45 nhóm người nghèo nhất. Trong thời điểm lạm phát tăng cao như hiện nay, thu nhập của người dân ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa đã thấp nay lại càng khó khăn hơn, sự gia tăng chi phí cho việc khám chữa bệnh (tăng viện phí) khiến tình trạng bất công ngày càng cao, bất chấp ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các đối tượng nghèo được mua Bảo hiểm Y tế tiếp tục tăng.
Một thực tế là những người nghèo thường ít có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế hơn là những người có thu nhập cao. Nhóm người giàu nhất sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các bệnh viện công lại cao hơn hẳn nhóm người nghèo nhất, gấp 4,36 lần. Ngược lại, số người nghèo nhất có bệnh không sử dụng các dịch vụ y tế cũng cao hơn 2 lần so với số người thuộc nhóm giàu. Họ chủ yếu sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các trạm y tế xã.
- Còn có sự khác biệt khá lớn về tử vong mẹ và tử vong sơ sinh cũng như tình trạng dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em giữa các vùng, miền. Tử vong mẹ ở vùng miền núi cao gấp 3- 4 lần so với đồng bằng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước gây ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển về thể lực và tầm vóc của các thế hệ người Việt Nam .
-Y đức nghề nghiệp của một số cán bộ y tế đứng trước nguy cơ mai một, nhiều cán bộ y tế gây khó dễ cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cán bộ y tế.
- Chất lượng khám chữa bệnh chưa đạt yêu cầu: chưa làm chủ được khoa học công nghệ, nhiều cán bộ còn thiếu chuyên môn. Đây là vấn đề bất cập nhất của ngành.
*Mất công bằng giữa các đối tượng hưởng thụ:
-Về tổ chức khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) của các cơ sở y tế. Còn có hiện tượng phân biệt đối xử giữa bệnh nhân bảo hiểm y tế và bệnh nhân khám chũa bệnh theo “dịch vụ” trực tiếp nộp tiền viện phí.
Bệnh nhân nghèo, diện chính sách hoàn cảnh khó khăn, khi gặp bệnh nặng cần xạ trị, xạ phẫu, và áp dụng một số các kỹ thuật cao khác đã được BHXH giải quyết chi trả thì đòi hỏi bệnh nhân phải có ba năm đóng BHYT liên tục mới được hưởng 50% nhưng tối đa không vượt quá 10 triệu đồng, số còn lại không ai chi trả, vì vậy bệnh nhân phải tự lo hoặc bệnh viện chi
2. Tính hiệu quả:
Theo báo cáo của Bộ Y tế, mức chi tiêu y tế bình quân đầu người ở nước ta tăng nhanh, từ 23 USD/người (năm 2003) lên 45 USD/người (năm 2006). Tuy nhiên, trong số đó, số tiền người bệnh tự chi đã chiếm tới 55%-64%, nguồn tài chính công chỉ chiếm khoảng 40%. Thực tế, trong những năm qua, tỷ lệ ngân sách nhà nước dành cho y tế trong tổng số chi ngày càng tăng, từ 4,98% (năm 2002) lên 5,61% (năm 2006) và chiếm 60% nguồn tài chính chi cho hệ thống y tế công lập. Tuy nhiên, nếu so với một số nước trong khu vực và thế giới thì Việt Nam vẫn đứng ở thứ hạng thấp, thứ 189/191 nước trên thế giới về chi ngân sách nhà nước cho y tế khi chỉ đáp ứng được 18% tổng chi tiêu của ngành.
Chi ngân sách nhà nước cho y tế vốn đã ít, hiệu quả sử dụng lại chưa cao. Nhiều bệnh viện đua nhau trang bị các kỹ thuật hiện đại, như: CT-Scan, chẩn đoán sinh học phân tử PCR... nhưng lại không đánh giá được chất lượng của thiết bị vì đào tạo đội ngũ cán bộ sử dụng không bắt kịp tiến bộ kỹ thuật. Do vậy, chi phí cho trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh ở Việt Nam chiếm tới 51% tổng chi cho ngành nhưng hiệu quả vẫn thấp, trong khi tỷ lệ bình quân của thế giới chỉ ở khoảng 15% và hiểu quả trội hơn hẳn.
3.Nguyên nhân:
3.1. Phía cán bộ y tế:
- Đội ngũ cán bộ phân bố không đồng đều thiếu nhiều y, bác sỹ tại các xã phường. Chưa có sự kết hợp giữa đào tạo với nhu cầu thực tế nên xảy ra tình trạng vưa thừa lại vừa thiếu.
- Chất lượng và trình độ tay nghề chưa tương xưng với bằng cấp.
- Vấn đề đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ y tế chưa dược chú trọng
-Chưa có chế độ ưu đãi hợp lý những tập thể cá nhân có đóng góp quan trọng trong sự nghiệp y tế. Thực tế thì không ít nơi, đội ngũ thầy thuốc còn thiếu y, còn nhũng nhiễu, hành dân từ khâu làm thủ tục điều trị cho đến khám chữa bệnh.
3.2. Nhu cầu người dân
Tuy nhiên, trước tình trạng dân số tăng nhanh, nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngày càng lớn khiến nhiều bệnh viện, nhất là bệnh viện tuyến trên, thường xuyên quá tải. Một số bệnh viện chuyên khoa, công suất giường bệnh luôn quá tải 150 - 200%. Nhà nước đã nỗ lực đầu tư về cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị y tế, nhưng vẫn còn hạn chế... Thực trạng đó làm nảy sinh các hiện tượng tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, nhân viên y tế. Có nhân viên y tế tìm cách gây khó dễ cho bệnh nhân để "vòi vĩnh". Lại có thầy thuốc thăm, khám bệnh lý ở mức độ nhẹ nhưng lại làm "phức tạp hóa" vấn đề gây tâm lý hoang mang, lo âu cho người bệnh. Thậm chí có người không may, đêm hôm phải vào cấp cứu, muốn được chữa trị kịp thời phải chi thêm tiền bồi dưỡng cho nhân viên y tế.
3.3 Cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất trang thiết bị yếu kém, đầu tư thiếu đồng bộ, phân bố không hợp lý các cơ sở khám chũa bệnh:ở các tỉnh miền núi mạng lưới y tế còn yếu phân bố không đồng đều, thiết bị khám chữa bệnh chưa đáp ứng yêu cầu nhiều bệnh nhân phải đua lên tuyến trên điều trị...
4.3. Nhận thức của người
- Người dân còn nhận thức chưa đầy đủ về các thủ tục hành chính trong khám chữa bệnh.
- Ở những vùng sâu, xa, đồng bào dân tộc thiểu số phải đối mặt với nhiều khó khăn để vượt qua nghèo khổ và bệnh tật. Nhiều yếu tố cản trở sự phát triển và phúc lợi của các đồng bào dân tộc thiểu số như: sự xa cách về mặt địa lý, trình độ văn hóa thấp, khí hậu khắc nghiệt... đã dẫn đến những hạn chế trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tình trạng sức khỏe kém của cả nhóm dân tộc. Thách thức lớn nhất hiện nay là giúp cho đồng bào các dân tộc thiểu số được tiếp cận nhiều hơn đối với các dịch vụ y tế có chất lượng.
4.4 Hệ thống văn bản qui phạm pháp luật
Còn nhiều thủ thục hành chính rườm rà trong khám chữa bệnh.
III. GIẢI PHÁP
Để khắc phục những hạn chế trên và để đảm bảo công bằng và hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ y tế, chúng ta phải thực hiện đồng bộ các biện pháp sau:
1. Huy động các nguồn lực tài chính đầu tư cho y tế
Tài chính y tế là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân và đảm bảo an sinh xã hội. Cách huy động các nguồn tài chính và cách phân bổ tài chính sẽ giúp người dân, nhất là người nghèo vượt qua những khó khăn và rủi ro do chi phí dành cho chăm sóc sức khỏe. Giải pháp để chăm sóc sức khỏe cho người nghèo chính là lo nguồn tài chính để hỗ trợ cho họ.
Cách thức chủ yếu trong việc lo nguồn tài chính là:
- Tăng ngân sách
Nhà nước cho công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, dành tỷ lệ ít nhất 10% ngân sách đầu tư cho việc chăm sóc sức khỏe nhân dân từ năm 2010. Trong đó, ít nhất dành 30% cho y tế dự phòng.
Tỷ lệ chi tuy có tăng nhưng tăng chậm, thậm chí có năm giảm. Việt Nam hiện vẫn là nước được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) “báo động” về mất công bằng trong chăm sóc sức khỏe vì người dân đang phải chi trả tới 73% chi phí khám chữa bệnh, trong khi WHO khuyến cáo, tỷ lệ này cần được khống chế dưới 50%.
+ Bảo đảm đủ ngân sách thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, đối tượng chính sách xã hội, người có công với cách mạng, trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ mệnh giá bảo hiểm y tế cho người cận nghèo. Ngân sách nhà nước ưu tiên đầu tư cho hoạt động y tế dự phòng và các cơ sở khám, chữa bệnh lao, bệnh phong và bệnh tâm thần, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế.
- Huy động sự san sẻ tài chính từ giàu sang nghèo bằng cách thực hiện Bảo hiểm y tế bắt buộc. Do đóng theo thu nhập nhưng hưởng các dịch vụ y tế không theo mức đóng mà theo nhu cầu bệnh tật, nên đây cũng là cách để chia sẻ giữa giàu và nghèo. Ngoài ra cũng phải lo tổ chức để việc khám chữa bệnh cho người nghèo có hiệu quả, hỗ trợ cho người nghèo khoản tài chính đi lại và ăn ở khi xa nhà….
- Có chính sách phân bổ nguồn ngân sách hợp lý giữa các vùng miền, tăng cường nguồn ngân sách đầu tư cho những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.
- Chống lãng phí trong đầu tư và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng cách tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng ngân sách.
- Đa dạng hóa các nguồn lực bằng cách tìm các nguồn lực khác ngoài ngân sách như: vốn trong dân, vốn của các tổ chức xã hội.
2. Thực hiện xã hội hóa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe :
Xã hội hóa là mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội. Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho các hoạt động y tế phát triển nhanh hơn, có chất lượng cao hơn.
Nội dung xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe con người là động viên và tổ chức tốt sự tham gia tích cực chủ động của mọi người với tư cách cộng đồng và tư cách cá nhân trên cả hai mặt hoạt động và đóng góp; tăng cường sự phối hợp liên ngành và củng cố vai trò nòng cốt của Ngành Y tế. Đây là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế của Ðảng và Nhà nước.
- Xã hội hóa bao gồm:
+ Đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Nhà nước, tập thể, dân lập, tư nhân... ) trong đó y tế Nhà nước có vai trò chủ đạo, cho phép nhiều lực lượng có hiểu biết và kinh nghiệm nghề nghiệp tham gia các dịch vụ chăm sóc sức khỏe dưới sự quản lý của Nhà nước (Cho phép thành lập các bệnh viện bán công, bệnh viện tư, bệnh viện liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài, các xí nghiệp dược phẩm tư nhân hoặc cổ phần) nhằm cung ứng dịch vụ ngày càng thuận tiện cho người dân và giảm bớt sức ép về ngân sách cho Nhà nước.
+ Khuyến khích các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước thành lập các phòng khám, chữa bệnh nhân đạo. Mở rộng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, các nhà thuốc tư nhân, các quầy thuốc, tủ thuốc tại trạm y tế xã phục vụ sức khỏe cộng đồng.
+Vận động nhân dân tự giác tham gia các hoạt động chăm sóc sức khỏe: các phong trào vệ sinh, rèn luyện thân thể, phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệ môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, lành mạnh; tăng cường sử dụng y học cổ truyền dân tộc, nuôi, trồng các loại cây, con làm thuốc. Nhân dân tham gia đóng góp và chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thông qua chế độ viện phí, tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.
3. Cơ sở vật chất
- Chính phủ ưu tiên chi từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, nguồn vốn ODA để đầu tư nâng cấp và phát triển cơ sở vật chất của hệ thống y tế công lập. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho các cơ sở y tế công lập thu hút các nguồn vốn đầu tư khác dưới hình thức vay vốn để nâng cấp trang thiết bị và hạ tầng cơ sở.
- Trang bị đầy đủ các phương tiện y tế cần thiết trong khám chữa bệnh, đầu tư mua sắm các trang thiết bị y tế hiện đại.
- Đầu tư có trọng điểm, tập trung ưu tiên cho các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; Ưu tiên các đối tượng có nguy cơ cao, các đối tượng bị thiệt thòi (đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo, dân di cư, các bà mẹ có thai bị nguy cơ cao);
Đặc biệt coi trọng đồng thời với việc giảm sự khác biệt giữa các vùng miền; Tăng cường tiếp cận đi đôi với việc cải thiện chất lượng dịch vụ.
4. Đội ngũ cán bộ, nhân lực làm công tác y tế
- Có chính sách thu hút cán bộ đối với ngành y tế, đặc biệt là các cán bộ y tế giỏi về các tỉnh miền núi, vùng cao, vùng khó khăn và thực hiện các chế độ ưu đãi khác, để cán bộ y tế yên tâm
công tác, chăm sóc sức khỏe nhân dân lâu dài.
- Thực hiện chính sách luân phiên cán bộ và thực hiện nghĩa vụ xã hội của cán bộ y tế đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và vùng khó khăn.
- Tăng cường đào tạo cán bộ y tế giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức, tâm huyết nghề nghiệp.
+ Đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở, đặc biệt là cán bộ hiện đang công tác tại các trạm y tế xã, tác.đào tạo chuyên môn để nâng cao tay nghề và khơi dậy lòng nhiệt tình của họ, họ sẽ có nguyện vọng, trách nhiệm và ràng buộc quay về quê hương. Đây cũng là một trong những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến xã.
5. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về y tế
- Sửa đổi chế độ thu viện phí ở các cơ sở y tế công cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội hiện nay trên nguyên tắc giá viện phí được tính gần đủ các chi phí trực tiếp phục vụ người bệnh, song thực hiện từng bước để nhân dân có thể chấp nhận.
- Sửa đổi chế độ bảo hiểm y tế cho phù hợp với giá viện phí, xóa bỏ sự phân biệt về chế độ điều trị giữa người nộp viện phí và người đóng bảo hiểm y tế. Ða dạng hóa các mức đóng góp và quy định được chi từ quỹ bảo hiểm y tế tương ứng với mức và thời gian đóng góp. Thực hiện cơ chế chi trả thích hợp, tránh tình trạng lạm dụng thẻ bảo hiểm y tế . Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh để thu hút đông đảo nhân dân tham gia bảo hiểm y tế .
- Cải cách thủ tục hành chính, xóa bỏ các thủ tục rườm rà trong khám chữa bệnh.
III. KẾT LUẬN
Tóm lại, đảm bảo công bằng và hiệu quả trong tiếp cận các dịch vụ y tế là một yêu cầu rất quan trọng và cần thiết của ngành y tế nước ta trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh việc đầu tư ngân sách, nhà nước cần ban hành nhiều chính sách hợp lý cũng như kêu gọi sự đóng góp của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp y tế.Việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác y tế đòi hỏi cao sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó, cán bộ chuyên môn trong ngành y tế là lực lượng nòng cốt nhằm mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

1: VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC, QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
1. Khái niệm về giáo dục
Giáo dục là quá trình trang bị và nâng cao kiến thức, hiểu biết về thế giới khách quan, khoa học, kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nghề nghiệp cũng như hình thành nhân cách của con người
2.Những cơ sở pháp lý
Nghị quyết Trung Ương 2 khóa IX về các quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục
Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoan 2001-2010
Quyết định số 201.2001/QĐ- TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng chính phủ
Nghị quyết Đại hội Đảng lần VII của Đảng về giáo dục
Luật giáo dục

II. VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC
1. Giáo dục là quốc sách hàng đầu
Ở các kỳ Đại hội Đảng đã có rất nhiều những nghị quyết đánh giá, đưa ra những vai trò to lớn của giáo dục với sự phát triển của đất nước, tại Nghị quyết TW2 khóa IX, Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo, Đảng nhận định vai trò then chốt của giáo dục:
Giáo dục cùng khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, do vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển của cả một dân tộc, cho cả một nền kinh tế đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Điều này thể hiện trên thực tế nước ta đang trong quá trình phát triển mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục là một trong những yếu tố tạo nên sự tăng trưởng bền vững, tham gia vào tất cả các lĩnh vực và có ảnh hưởng sâu rộng tới tất cả những lĩnh vực đó làm tiền đề cơ bản, cơ sở cho sự phát triển chung .
Với các nước phát triển đó là chiến lược hàng đầu nhất là các cường quốc như Mỹ, Nhật, Hàn, Anh, Singapore…thì giáo dục là nhân tố quan trọng để đưa đất nước, dân tộc họ phát triển như hôm nay. Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước tiến tới 2020 đưa nứơc ta trở thành nước công nghiệp và giáo dục sẽ là một trong những nhân tố đảm bảo mục tiêu đó.
Con người là trung tâm của giáo dục, là nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình kinh tế, xã hội, làm kinh tế phát triển là động lực để thực hiện mọi mục tiêu
Giáo dục thúc đẩy sụ phát triển của cả đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, đem lại đời sống tốt hơn cho mọi người.Vai trò này thể hiện trên nhiều khía cạnh của đời sống, mọi người được đi học, được giáo dục sẽ có trình độ, sẽ tiếp thu nhanh những chính sách của Nhà nước trong hỗ trợ xóa đói giảm nghèo, xây dựng kinh tế gia đình phát triển.
Trên thực tế cho thấy những gia đình là tri thức có con đi học cao là những gia đình có kinh tế cao, bởi lẽ trong quá trình đầu tư cho con cái đi học mỗi gia đình phải mất đi một khỏan không nhỏ, có những gia đình ở vùng nông thôn không có điều kiện họ sẵn sàng đi vay vốn của Nhà nước cho con đi học. Đến khi con cái trưởng thành đi làm tại các cơ quan nhà nước các doanh nghiệp với thu nhập cao không những hoàn trả lại khoản vay lãi suất thấp của Nhà nước mà còn giúp gia đình họ thoát khỏi nghèo. Bên cạnh đó ta thấy ở những vùng đồng bằng, vùng thành thị có tỉ lệ hộ nghèo thấp hơn so với vùng sâu vùng xa và vùng nông thôn do ở đây giáo dục phát triển và có nhiều cơ hội học tập và làm việc hơn .
Qua đây thể hiện được vai trò quan trọng của giáo dục trong xóa đói giảm nghèo phát triển kinh tế đất nước.
2. Giáo dục là động lực cho sự phát triển kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế
Rõ ràng một đất nước lấy giáo dục là nền tảng của mọi sự phát triển sẽ tạo ra động lực cho các ngành kinh tế phát triển trên cơ sở tri thức khoa học, theo kịp các nước trên khu vực và thế giới. Muốn đuổi kịp kinh tế, đuổi kịp tri thức các nước đều có những cơ hội riêng của mình, và cơ hội chung tạo động lực phát triển là con người, do đó họ đặt giáo dục vào vị trí ưu tiên. Ví dụ như Hàn Quốc từ những năm 1960 GDP bình quân đầu người đã tăng 11 lần, đưa quốc gia này thuộc hàng các nước phát triển của tổ chức OECD, thì 72% sự gia tăng kinh tế là do chú trọng giáo dục và tích lũy tri thức từ phát triển con người.
Ở Việt Nam sự tăng trưởng kinh tế mỗi năm tăng từ 1- 3% dao động ở mức trung bình 7,1- 8%/năm và chưa có những bước nhảy vọt do giáo dục nước ta chất lượng còn thấp, khoa học công nghệ chưa phát triển, chưa có sự hội nhập kinh tế.
Giáo dục Việt Nam chưa phát huy rõ vai trò của mình nên hiện tại nước ta khó khăn trong việc cạnh tranh về giáo dục và các lĩnh vực khác so với trong khu vực và thế giới. Một nền giáo dục hiện đại là nền giáo dục mở có khả năng cạnh tranh cao cả về số lượng và chất lượng nhất là trong thời kỳ hội nhập. Theo số liệu thống kê cho thấy những năm gần đây đã có sự quan tâm đúng mức của Nhà nước tới phát triển chất lường giáo dục, số sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học tăng 45% đã có hơn 175.000 học sinh Việt Nam du học, nước ta xếp thứ 13 trong tổng số nước có du học sinh tại Mỹ .
Tuy vậy nhưng chúng ta trong bảng xếp hạng giáo dục vẫn xếp ở mức trung bình cùng các nước Đông Nam Á khác: Inđônêxia 65. Philippin 60 , Trung Quốc 54, Hàn Quốc đứng đầu với vị trí thứ 4. Như vậy cần quan tâm hơn nữa để phát huy vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế cũng như sự cạnh tranh về mọi lĩnh vực của Việt Nam trong khu vực và vươn ra bên ngoài.
3. Giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước
3.1. Về vai trò nâng cao dân trí
Giáo dục là thước đo trình độ dân trí của con người, của nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, trình độ dân trí ở nước ta không cao, không đồng đều do sự phát triển giáo dục ở mỗi vùng miền là khác nhau, đó là trữ lượng tri thức của mỗi người dân ở một khu vực cụ thể đó là biểu hiện của sự hiểu biết về các lĩnh vực trong nhân dân, dân trí cao hay thấp thể hiện qua thu nhập, mức sống, trình độ học vấn cao.
Ngoài ra nó còn biểu hiện ở việc đến trường học của học sinh, càng đông trẻ em đến trường đi học, càng cho thấy sự tác động của giáo dục nhằm nâng cao năng lực của mỗi con người. Đồng thời là cân bằng mặt bằng dân trí đồng đều ở các vùng miền, thành thị, nông thôn, mọi người, mọi thành phần trong xã hội đều được tiếp cận giáo dục hiện đại, làm cho giáo dục được đầu tư đồng bộ hơn.
Ví dụ : khi điều tra về những người mẹ có học vấn thì sẽ nâng cao hiểu biết về sinh đẻ, chăm sóc trẻ em, do tiếp cận được với những dịch vụ phát triển đã giảm tỷ vong trong sinh đẻ
Mẹ không học vấn
144 ca/1000ca
Mẹ học tiểu học
106/1000ca
Mẹ trung học
68/1000ca

Ở Washington nước Mỹ là nơi có trình độ dân trí cao nhất thế giới, thể hiện ở đây là nơi có lực lượng lao động liên quan đến khoa học công nghệ tăng cao, là nơi tập trung nhiều kỹ sư, các nhà khoa học đông nhất 324.530 người , 42% dân cư Washington là cử nhân, 19% có chứng chỉ tốt nghiệp, là nơi có tiến sĩ cao nhất Mỹ chiếm 2,5% dân số vùng.Có được những thành quả như thế là do Mỹ là nơi giáo dục phát triển nhất thế giới.
3.2 Về đào tạo nguồn nhân lực, tài lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội.
Giáo dục đã không ngừng đào tạo đội ngũ các nhà khoa học ở các lĩnh vực, các chuyên gia đầu ngành về nghiên cứu có năng lực trình độ, đội ngũ các nhà giáo ở các cấp có phẩm chất chuyên môn trong giảng dạy cho thế hệ trẻ cho đất nước
Đây là đội ngũ có tri thức cao và quan trọng cho sự phát triển, họ là cầu nối giữa khoa học thế giới và nước nhà, đóng vai trò chủ đạo trong chuyển giao công nghê, họ là những người tạo ra những thành quả lao động, những thành quả khoa học công nghệ cho đất nước, giúp đội ngũ trí thức trong nước thêm lớn mạnh.
Thêm nữa hàng năm giáo dục nước ta đã có nhiều các tiến sỹ giáo sư, các nhà khoa học đựợc tạo điều kiện ra nước ngoài học tập về làm giàu cho đất nước mang kinh nghiệm thành công ở nước ngòai ứng dụng trong nước làm cho đất nước phát triển và giàu mạnh .
Và không thể không nói đến một vai trò quan trọng của giáo dục là đào tạo ra nguồn nhân lực, lao động dồi dào có trình độ, năng lực phẩm chất làm việc trong tất cả các lành nghề ở mọi lĩnh vực hoạt động, không chỉ phục vụ trong nước mà còn xuất khẩu ra nước ngoài nhằm thu ngân sách cho Nhà nước.
Mỗi năm giáo dục Việt Nam đáp ứng 49% lực lượng lao động có tay nghề cho các doanh nghệp cũng như các cơ quan Nhà nước và có khoảng 10.000 người lao động ra nước ngoài làm có tay nghề và ham học hỏi .Trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì đào tạo nhân lực lại càng là nhiệm vụ quan trọng của giáo dục trong nước.
Hàng năm ngành giáo dục đào tạo rất nhiều cử nhân, nhân tài cho đất nước đáp ứng nhu cầu làm việc trong mọi lĩnh vực nhất là kinh tế, khoa học, công nghệ thông tin….khoảng 1triệu người/ năm ra trường và làm việc …
4. Giáo dục có vai trò lớn trong phát triển con người
Giáo dục và đào tạo giúp phát triển tiềm năng con người, đóng góp vào sự phát triển của mỗi cá nhân và họ có thể phát huy và vận dụng hết tiềm năng của mình vào phục vụ cuộc sống. Điều này cũng có nghĩa là giáo dục đang thực hiện công tác đào tạo ra đội ngũ nguồn nhân lực có chất lượng cao đất nước, có năng lực chuyên môn, khả năng thích nghi với thị trường, mà nhân tố con người là hết sức quan trọng là động lực để thúc đẩy xã hội phát triển, do đó nó được coi là chiến lược hàng quan trọng hàng đầu của các quốc gia.
Giáo dục và đào tạo giúp cho con người tạo ra các tri thức mới, có điều kiện tiếp cận và nhận biết tri thức mới do vậy đây là nhân tố chủ yếu để quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nếu con người không được đào tạo, bổ sung kiến thức thì xã hội vẫn là thế không thể phát triển đi lên hay thay đổi được.
Giáo dục và đào tạo ngay từ bước đầu đã giáo dục cho con người có ý thức và trách nhiệm công dân, đây là điều kiện tiên quyết để thực hiện nhân quyền, dân chủ trong thời đại ngày nay, khi mọi người đều có trí tuệ, trình độ thì họ mới tồn trọng và hợp tác bình đẳng với nhau.
5. Đánh giá:
Tóm lại trong các nguồn lực để phát triển, nguồn nhân lực có trí tuệ là nhân tố cơ bản, quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Giáo dục đào tạo tạo ra lớp người lao động có trí tuệ đó. Nền kinh tế, xã hội có phát triển nhanh bền vững hay không là nhờ vào quá trình phát triển của giáo dục, nhìn vào thực tế các quốc gia phát triển nước ta mà đứng đầu là Đảng và Nhà nước đã đánh giá giáo dục là nhân tố quyết định, là quốc sách, chiến lược hàng đầu cho hội nhập.
II. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
Giáo dục đào tạo là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống chính trị, kinh tê, xã hộ, nó liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nên Đảng chủ trương phát triển giáo dục tập trung ở NQTW2 khóa IIX, NQ Hội nghị lần 9 Ban chấp hành TW Đảng IX có những quan điểm sau:
1.Giáo dục đào tạo nhằm xây dựng con người có đầy đủ phẩm chất để xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Nhìn nhận về vai trò của giáo dục trong xây dựng hình thành nhân cách, năng lực phẩm chất con người phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước, Đảng ta đã luôn đề cao vị trí trung tâm của nhân lực. Dân tộc ta có truyền thống yêu nước, con người VIệt Nam từ bao đời nay luôn có tinh thần kiên cường, chăm chỉ, cần cù sáng tạo trong lao động, do vậy mà để phát huy hơn nữa và phát triển con người thời kỳ mới thì giáo dục phải luôn hướng tới mục tiêu như vậy. Ngày nay khi chúng ta bước vào hòa bình, thì muốn bảo vệ, xây dựng vững chắc TỔ Quốc thì đào tạo nhân lực xã hội mới là quan trọng cho toàn ngành giáo dục
Bác Hồ đã có câu” có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng kh” và vì con người là trung tâm của tất cả các họat động, là người trực tiếp xây dựng đất nước ở hiện tại cũng như tương lai nên giáo dục phải quán triệt quan điểm này.
2. Giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo nhất là chính sách công bằng xã hội
Sở dĩ như thế vì xét cho đến cùng phát triển sự nghiệp giáo dục là phát triển xã hội, phát triển con người và phát triển đất nước. Một trong những mục tiêu nước ta kiên định theo con đường chủ nghĩa xã hội là làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, xây dựng thành công sự nghiệp công nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, nên phải làm cho giáo dục là một trong những công cụ đắc lực nhất để thực hiện điều đó.
Công bằng xã hội trong giáo dục để đáp ứng với xu thế chung của giáo dục trong khu vực và thế giới, đồng thời đảm bảo chính sách công bằng về giáo dục, xã hội giữa đồng bằng, miền núi, vùng sâu, vùng xa, mọi người đều được học, được tham gia vào các hoạt động, chương trình giáo dục với những hình thức khác nhau.
3. Thực sự coi giáo dục là quốc sách hàng đầu cùng với khoa học công nghệ là yếu tố quyết định góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Nước ta cũng như các nước trên thế giới coi quốc sách là hàng đầu vì đây là nhân tố tiên quyết cho mọi sự phát triển của một nước, là cơ sở vững chắc cho chính trị, kinh tế, xã hội, do vậy mà chúng ta đang ra sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng đưa giáo dục nước nhà tiến kịp với nền kinh tế tri thức cũng như khoa học hiện đại .Đầu tư cho giáo dục hiệu quả sẽ nhanh chónh xã hội hóa giáo dục, huy động mọi nguồn lực để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục trong tương lai.
Ở những nước phát triển như MỸ, Anh, Canada, Nhật, Hàn rất coi trọng giáo dục vì họ luôn nhận ra rằng chỉ có giáo dục và con người mới tạo nên mọi sự phát triển về kinh tế, xã hội nên hàng năm ngân sách chi cho giáo dục cũng như đầu tư cơ sở vật chất ở các nước này đứng hàng đầu thế giới. Ví như ở Canada học sinh tiểu học và trung hoc được miễn phí học tại các trường công liên bang, đầu tư cơ sở vật chất cao đứng đầu ở một trong 3 vị trí cao nhất của các nước thuộc các nước Hợp tác phát triển quốc tế, cao nhất trong các nước G7
Ở Hàn Quốc năm 2008 gần 30 tỷ USD được đầu tư cho giáo dục đạt mức kỷ lục .Do vậy mag chúng ta đã thấy rõ sự phát triển vượt bậc cuả những quốc gia này về mọi mặt.
4. Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, mọi người mọi cấp chăm lo cho giáo dục và đào tạo
Quan điểm này cũng xuất phát từ thực tiễn giáo dục nước ta và qua vai trò của giáo dục. Đảng ta luôn có các chính sách, nghị quyết chỉ đạo, hoạch định cũng như chủ trương trong giáo dục, vì coi đây là nhiệm vụ, chức năng của mình, là sự nghiệp của toàn dân tộc đầu tư chăm lo cho giáo dục nước nhà.
Giáo dục Việt Nam hiện nay còn phát triển chậm và còn lạc hậu xa so với khu vực và thế giới, đứng thứ 71/129 quốc gia được khảo sát về giáo dục, tỉ lệ trẻ em không đến trường cao, số người mù chữ vẫn còn là vấn đề quan tâm, giáo dục chưa cho học sinh biết mình phải học để làm gì.
Ví dụ: ngay từ những năm đầu tiên đến trường đi học chúng học được bài học đầu tiên là”Nước ta giàu tài nguyên thiên nhiên, rừng vàng biển bạc”nên đã không tạo ra động cơ học tập cho học sinh nên đến nay giáo dục vẫn kém về mọi mặt. Còn ở nước Nhật trang đầu sách giáo khoa họ viết: Đất nước chúng ta không được thiên nhiên ưu đãi. Nên các bạn tự biết khai thác năng lực của chính mình cho Tổ Quốc”.do đó mà hôm nay ở Việt Nam giáo dục càng phải được quan tâm và là sự nghiệp trồng người.
5. Bên cạnh đó phải giữ vững nòng cốt của các trường công lập song song với đa dạng hóa các loại hình giáo dục đào tạo
Ở nước ta hiện nay tỷ lệ các trừờng dân lập đang tăng lên kéo theo các loại hình giáo dục khác cũng không ngừng phát triển mang lại những nhân tố tích cực và tiêu cực, do vậy một trong những quan điểm chỉ đạo yêu cầu đặt ra là phải ổn định và nâng cao vai trò của các trường công lập phát huy tốt chất lượng nguồn lực cho tương lai
Thêm nữa là phát triển các loại hình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu điều kiện của cá nhân, điều kiện kinh tế xã hội như giáo dục thường xuyên, giáo dục từ xa để khuyến khích, thúc đẩy việc tham gia học tập của mọi tầng lớp trong xã hội, từng bước hiện đại nền giáo dục và hội nhập quốc tế.
6. Chăm lo cho giáo dục là là chăm lo cho con người và xã hội phát triển phù hợp với các yêu cầu, tiêu chí được xác lập.
Xác lập tiêu chí về con người trong giáo dục là con người có đủ năng lực kiến thức thực tiễn tham gia tốt vào quá trình hội nhập giáo dục phát triển tạo điều kiện cho mọi người được học hành đầy đủ và được trang bị kiến thức toàn diện
Đó là việc không ngừng nâng cao hiểu biết, kỹ năng sống và tham gia vào phát triển của tất cả mọi người, từ nông thôn đến thành thị, miền núi, vùng sâu Đảng sẽ quan tâm hơn và có nhiều chính sách hơn, phần nào cân bằng dân trí trong các địa phương về giáo dục.
7. Phát triển giáo dục đào tạo phải theo nguyên lý: học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội
Điều này thể hiện rõ ở chỗ hiện nay ở các nước trên thế giới học sinh, sinh viên hoàn tòan chủ động ở trường, cùng với đó là việc học lý thuyết chỉ có 30% còn lại 70% là thực hành và thực tế , thảo luận từng vấn đề liên quan đến các môn học, giúp cho việc tư duy logic hơn, lý luận gắn chặt với thực tiễn hơn, tăn khả năng sáng tạo.
Còn với nước ta vẫn diễn ra thói quen muôn đời là thụ động, thầy cô đọc và học sinh chép, làm hạn chế khả năng tue duy và sáng tạo làm giảm hiệu suất học tập
Quan điểm cho thấy đây là vấn đề cần nhanh chóng được giải quyết. Một đặc điểm của giáo dục Việt Nam là luôn gắn giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội với nhau không tách dời , ở trường cung cấp tri thức, giáo dục ở nhà trang bị cho học sinh về phẩm chất và tính năng động, tự giác học hỏi và hình thành nhân cách con người. Giáo dục không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là của toàn xã hội, không chỉ cung cấp cho thế hệ trẻ kiến thức học hành mà trang bị kỹ năng giao tiếp của xã hội để sau này khỏi ngỡ ngàng mà nhanh chóng hội nhập .
Trên đây là những quan điểm phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước ta đưa ra nhằm khẳng định mạnh mẽ vai trò của giáo dục với cá nhân và cộng đồng ,nâng cao tinh thần trách nhiệm của cả dân tộc đối với giáo dục để đưa giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng lạc hậu và đưa giáo dục Việt Nam sánh vai với các nước trong khu vực và thế giới trong tương lai.
Chương 2: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM
I. THÁCH THỨC CỦA GIÁO DỤC VIỆT NAM
1. Tỷ lệ trẻ em không đến trường ở mức cao
Theo số liệu thống kê của UNESCO về giáo dục Việt Nam năm 2008 nước ta có khoảng 1triệu trẻ em không đến trường đa là cho giáo dục gặp nhiều khó khăn trong phát triển và hội nhập.
Năm 2008 với chỉ số giáo dục cho mọi người năm là 0,899, đứng thứ 79/129 quốc gia được khảo sát và chúng ta đang đứng trước nguy cơ không đạt được 6 chỉ tiêu giáo dục cho mọi người đến năm 2015 gồm:
Chăm sóc và giáo dục mầm non
Phổ cập giáo dục tiểu học và đáp ứng nhu cầu học tập của thanh niên và người lớn
Xóa mù chữ
Môi trường tri thức
Cân bằng giới và bình đẳng giới
Chất lượng giáo dục
2. Sự tụt hậu của nền giáo dục
Đây là một trong những thách thức đang được quan tâm với giáo dục Việt Nam, sự tụt hậu của giáo dục của nền giáo dục nước ta đang tạo ra khoảng cách tương đối lớn so với các nền giáo dục trong khu vực và thế giới
Xuất phát điểm của điều này do nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, kinh tế chậm phát triển, xã hội khủng hoảng nhiều mặt, lạc hậu về mọi mặt trong đó có giáo dục mà nền giáo dục nước ta còn chậm đổi mới, nền giáo dục phải mất 100năm nữa mới theo kịp Singapore và 200 năm với sự phát triển của giáo dục Nhật. Đây là thách thức cơ bản hiện tại và tương lai của Việt Nam.
Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, giúp cho nhiều dân tộc, quốc gia có cơ hội tiến nhanh về phía trước, nhưng có các quốc gia sẽ có nguy cơ tụt hậu. Chúng ta hiện nay đang sống trong thời đại khoa học công nghệ hiện đại, loài người ngày càng phát triển và nhiều loại công nghệ hiện đại phục vụ cho cuộc sống của con người nói chung và cả của ngành giáo dục nói riêng, như máy tính, máy chiếu, các công nghệ hiệ đại phục vụ cho việc nghiên cứu của học sinh, sinh viên điều này đã tạo điều kiện cho các quốc gia nhậy bén, có điều kiện tiến nhanh về phía trước, nắm bắt được các công nghệ hiện đại phục vụ cho ngành giáo dục. Ví dụ như Nhật Bản là 1 quốc gia có những phát triển thần kỳ trong kinh tế xã hội và giáo dục vì họ đã nắm bắt, đặt trọng tâm vào việc phát triển giáo dục chất lượng cao, chú trọng phát triển khoa học công nghệ. Và đây cũng là 1 thách thức to lớn đối với ngành giáo dục Việt Nam, Tuy chúng đã đạt được nhiều thành tựu nhưng đã có 1 số biểu hiện lệnh lạc trong định hướng giáo dục, chưa chú trọng đến chất lượng giáo dục, chưa đầu tư đúng mức cho giáo dục hiện rất có nguy cơ tụt hậu về giáo dục đặc biệt là các khu vực vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc, vì vậy để giải quyết các tháhc thức này thì Nhà nước ta phải đẩy mạnh việc coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, tăng cường xã hội hoá giáo dục, coi trọng việc cải cách giáo dục cho phù hợp và theo kịp với nền giáo dục của các quốc gia trên thế giới.
3. Quy mô
Về quy mô giáo dục còn mất cân đối, còn nhỏ hẹp trên phạm vi phát triển cả nước, việc mở rộng quy mô cho ngành giáo dục là khó khăn trong khi ngân sách còn hạn chế. Ở các vùng đồng bằng, thành thị, các khu trung tâm kinh tế lớn giáo dục ít có khả năng mở rộng ra thêm do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa.
Sắp tới nước ta có một số thay đổi trong quy hoạch lại các trường đại học, nhằm giảm áp lực cho các khu trung tâm, chúng ta sẽ di dời các trường ra ngoại thành để vừa mở rộng quy mô lại tạo điều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội, tuy nhiên đây cũng là kế hoạch khó khả thi trong điều kiện nước ta hiện nay.
4. Về chất lượng giáo dục
Đây là thách thức quan trọng của giáo dục VIệt Nam, chất lượng giáo dục là vấn đề đáng quan tâm nhất của giáo dục là mục tiêu của giáo dục ở bất cứ nước nào nhưng với nước ta thì đang có nguy cơ sa sút, chất lượng giáo dục còn quá thấp, không đồng đều ở các cấp bậc,hiệu quả của giáo dục đại trà còn chưa cao.
Theo thông tin từ Viện chiến lược và chương trình giáo dục cho biết chỉ số tổng hợp nhân lực giáo dục nước ta đạt 3,79 điểm / mức 10 điểm, thua kém các nước trong khu vực và Châu Á như sau:
Hàn Quốc 6,91
Ấn Độ 5,76
Singgapore 6,81
Philippin 4,53
Nhật Bản 6,50
Trung Quốc 5,73
Đài Loan 6,04
Hồng kông 5,20

Về năng lực quản lý :Giáo dục là nhiệm vụ của mọi người, mọi tổ chức, cấp ngành nhưng chưa được chú trọng, ở mỗi địa phương việc phân cấp, phân công trách nhiện quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ và chưa thống nhất. Những cán bộ giỏi có trình độ chuyên môn quản lý giáo dục tập trung ở thành thị, các khu trung tâm, còn ở các vùng sâu, vùng xa hầu như năng lực của đội ngũ cán bộ giáo dục còn hạn chế.
Có quản lý tốt thì giáo dục mới đi đúng hướng theo đúng quản điểm chỉ đạo của Đảng, do vậy đây là thách thức đáng quan tâm của giáo dục và cần có những chính sách quản lý hiệu quả.
5.Loại bỏ chênh lệch
Việc mất cân đối về tỷ lệ người học và người dạy đã gây nên chênh lệch lớn trong giáo dục nước nhà, tỷ lệ đó chưa tương xứng và phù hợp, giữa thành thị, nông thôn, giữa các vùng và địa phương trong cả nước
1987-1990
1
6,6
1992-1993
1
10
1996-1997
1
28
2007-2008
1
36

Bên cạnh đó tỷ lệ người học và giáo viên còn chênh lệch khi khảo sát 122 quốc gia trong đó có nước ta, tại 60 quốc gia, trung bình 1 giáo viên phụ trách 25 sinh viên, các nước có tỷ lệ thấp là các nước đang phát triển
Ngoài ra có sự mất cân đối ở giáo dục đại học: 120 sinh viên/ 1 vạn dân, chênh lệch về trình độ, sinh viên cao đẳng là 20% , sinh viên nông- lâm- nghiệp <46%, kỹ thuật công nghệ 17%, trong khi đó sinh viên pháp lý – kinh tế 42% năm 1997, phân bố không đồng đều .
Và đây là những vấn đề ngành giáo dục cần có những biện pháp để nhanh chóng giảm thiểu tối đa sự chênh lệch này
6.Cung cầu giáo dục có khoảng cách lớn, sự cung ứng của giáo dục không theo được nhu cầu thị trường lao động việc làm, sự đòi hỏi của quá trình phát triển kinh tế, xã hội
Nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, việc đào tạo nguồn nhân lực cho thị trường lao động trong và ngoài nước đang không đáp ứng được nhu cầu. Nguồn lao động nhiều không có chuyên môn trình độ nễn không thỏa mãn yêu cầu công việc.Cũng do chất lượng nguồn lao động trong các ngành còn hạn chế. Xuất khẩu lao động đang ngày càng có xu hướng tăng cao hàng năm nhưng nếu giáo dục không nhanh chóng thay đổi cải cách sẽ dẫn đến chúng ta không thể đảm bảo được công việc và chất lượng,
7. Sự hội nhập đòi hỏi phải có năng lực cạnh tranh cao.
Việt Nam đang tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy thách thức đặt ra cho Việt Nam là năng lực cạnh tranh của ngành giáo dục, bởi lẽ nếu ngành giáo dục mà không có năng lực thì sẽ không thực hiện tốt vai trò và chức năng của ngành, không là nhân tố tác động tới sự phát triển của đất nước, Việt Nam đã bắt đầu phải đối đầu với các thách thức này đặc biệt là đối với giáo dục bậc đại học và đào tạo dậy nghề, năng lực cạnh tranh của giáo dục Việt Nam còn yếu kém các trình độ đại học của Việt Nam, còn chưa được các quốc gia trên thế giới công nhận và tín nhiệm. Như vậy để hạn chế thách thức này thì Nhà nước ta cần chú trọng việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo thực chất hơn nữa và có kế hoạch phát triển bậc đại học 1 cách hợp lý để phù hợp với điều kiện thực tế hơn nữa.
8. Sức ép của dân số đông lên nền giáo dục chưa phát triển đầy đủ của nước ta
Việt Nam là quốc gia có dân số đông, lại có tốc độ phát triển nhanh, cơ cấu dân số trẻ, nên số người đến trường hiện nay rất lớn, nhu cầu được đào tạo ngày càng tăng nhưng năng lực của giáo dục Việt Nam lại chưa thể đáp ứng hết được nhu cầu này, nên nó đã tạo cho ngành giáo dục 1 sức ép to lớn mà Nhà nước ta cần nhanh chóng giải quyết vấn đề như tăng cường đầu tư các nguồn lực cho nền giáo dục để đảm bảo đáp ứng đầy đủ nhu cầu như hiện nay về lâu dài Nhà nước cần phải có chiến lược phát triển dân số hợp lý để vừa có đủ nhân lực phát triển đất nước và không tạo ra sức ép cho xã hội.
Từ những tồn tại hiện nay của nền giáo dục Việt Nam sẽ tạo nên cho chúng ta các thách thức trong tương lai. Hiện nay nền giáo dục của Việt Nam còn rất nhiều tồn tại cần khắc phục như chất lượng đào tạo chưa cao còn nhiều cơ cấu bất hợp lý đặc biệt là giáo dục bậc đại học và dậy nghề gây nên tình trạng “ Thừa thầy thiếu thợ “ cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn gây khó khăn cho việc phát triển giáo dục, và 1 tồn tại đáng báo động là việc quản lý lỏng lẻo của ngành giáo dục gây nên những vấn đề bức xúc cho xã hội. Như vậy tất cả các tồn tại này sẽ là thách thức to lớn trong tương lai không xa, do vậy Nhà nước ta cần có biện pháp khắc phục những tồn tại này để tránh những thách thức cho tương lai.

II. ĐÁNH GIÁ
Giáo dục Việt Nam có nhiều những thách thức phải đối mặt nhưng thách thức lớn nhất cho đến thời điểm này của nền giáo dục nước nhà là chất lượng giáo dục còn quá thấp so với mặt bằng chung trong khu vực và kém xa so với các nước phát triển trên thế giới
1. Về phía người học, người dạy
Tình trạng học sinh không đến trường còn ở mức cao 1 triệu nguời năm 2008 với những nguyên nhân như điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, bệnh thành tích trong giáo dục thể hiện ở việc trước kia vì chạy đua thành tích nên học sinh được lên lớp rất nhiều nay khi quy chế giáo dục có sự thắt chặt việc đánh giá học sinh rõ ràng hơn, nhiều học sinh không theo kịp đã không đến trường làm gỉam chất lượng giáo dục
Hiện tượng chạy trường, ngồi nhầm lớp đang diễn ra phổ biến, những trường điểm có nhiều lựa chọn cho học sinh có cơ hội cho học sinh nên trong những năm gần đây đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng thấp của giáo dục, học sinh không theo kịp chương trình.
Hơn thế học sinh còn ngồi nhầm lớp rất nhiều, khi vào các em được xếp ở lớp này nhưng do sự thiếu trách nhiệm trong khâu sắp xếp học sinh vào không đúng lớp gây xáo trộn việc học hành ,
Trong giảng dạy, giáo viên còn dạy theo phương pháp truyền thống thầy đọc trò chép, dẫn đến việc tiếp thu một cách thụ động, đến khi đi thi thì học sinh học thuộc lòng dẫn đến giáo viên hổng kiến thức chất lượng giáo dục thấp.Cách thức dạy học còn máy móc, cứng nhắc áp đặt làm cho học sinh không phát huy tính sáng tạo, tư duy và suy nghĩ chủ động .
Đồng thời tình trạng dạy thêm học thêm diễn ra tràn lan phổ biến, gia tăng đã hạn chế rất nhiều sự tham gia tích cực của cả thày và trò vào mục tiêu giáo dục là trang bị cho học sinh kiến thức để xây dựng phát triển.
Tình trạng gian lận trong thi cử còn nhiều, điểm đầu vào thắt chặt đầu ra lỏng nên còn nhiều tiêu cực tác làm giảm sút hiệu quả giáo dục.


2. Do cơ sở vật chất thiếu thốn
Ngân sách Nhà nước là điều kiện không thể thiếu để nâng cao chất lượng giáo dục, mấy năm trở lại đây đầu tư cho giáo dục mới chỉ đạt 15% tổng ngân sách , năm 2003 :16,5%, 2004: 17,5%
Cơ sở vật chất thiếu thốn như sân tập, phòng , học, phòng thí nghiệm, thư viện, các thiết bị giáo dục khác, nhất là các vùng nông thôn, các vùng miền núi, vùng sâu đây là điều càng khó khăn do đó mà giáo dục ở đây chưa thể phát triển đồng đều kéo theo chất lượng giáo dục toàn nước lúc nào cũng ở mức thấp, và không có được chất lượng toàn diện.
3. Về nội dung chương trình và sách giáo khoa
Chương trình học, nội dung học hiện hành còn nặng nhưng lại yếu , đầy tính hàn lâm nhưng ít ứng dụng, thực hành, không hỗ trợ cho học sinh phát triển năng lực, chủ động.
Việc in Sách giáo khoa, in các đáp án, bộ đề càng làm tăng tính thụ động, dẫn đến lười tư duy, thiếu trung thực trong giáo dục ở mọi cấp học.
Các loại sách giáo dục ở nước ta thường xuyên chỉnh lý, tái bản chất lượng chưa đạt yêu cầu chuẩn quốc tế, giá thành còn cao nên việc sử dụng sách còn nhiều hạn chế.
4. Về cơ chế quản lý
Cơ chế quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế làm cho giáo dục chất lượng không theo kịp sự phát triển kinh tế, từ giáo dục đại học đến giáo dục mầm non.Cơ chế thiếu khách quan và con yếu ở năng lực quản lý chuyên môn đã làm chất lượng thấp không bền vững.
Các cơ quan ban ngành quản lý trong giáo dục từ trung ương xuống cơ sở còn nhiều bấp cập trong phân cấp cũng như lãnh đạo trình độ còn thấp đã dẫn đến cả bộ máy kém hiệu quả đã tác động làm cho giáo dục chất lượng yếu.
Để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nước ta trong thời gian tới chúng ta có một số biện pháp sau đây:
Cần công bằng khách quan trong đánh giá về chất lượng giáo dục, mục đích của học tập là để biết, để làm , để chung sống với cộng đồng và khẳng định chính mình nhưng ở nước ta thì mọi họat động học tập hướng để thi là chủ yếu nên đã dẫn đến tình trạng chất lượng gíao dục như hiện nay.
Nâng cao chất lượng giáo dục trong mở rộng quy mô, nhiều loại hình đào tạo giáo dục.
Xây dựng đội ngũ giáo viên chất lượng cho các cấp học và cho tòan ngành , đây là nhân tố có vai trò đột phá trong cải thiện chất lượng dạy và học.Cần có những chính sách ưu đãi cho giáo viên lên các vùng sâu vùng xa bằng các khỏan phụ cấp <5% là nghĩa vụ, từ 5-10 năm hưởng 5%. Nâng cao toàn diện đội ngũ, giáo viên trình độ, tâm huyết với nghề .
Phải có kế hoạch đào tạo đủ các loại hình giáo dục đào tạo bảo đảm chất lượng dạy và học .Đổi mới hệ thống trường lớp, hòan thiện cơ chế quản lý, các chế độ chính sách tăng cường hợp tác quốc tế về nâng cao chất lượng giáo dục
Về chương trình học: với các chương trình giáo dục phổ thông cần tinh giản nội dung để năgn động trong phương pháp, sáng tạo cho thày và trò, tăng thêm các họat động ngoài giờ, gắn giáo dục với lao động sản xuất
Hợp tác quốc tế, đổi mới xây dựng chương trình đào tạo, bỏ các môn không cần thiết, tác động đến chính bản thân người học để họ tham gia học tốt đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Chúng ta phải cải cách giáo dục, sách giáo khoa theo chuẩn quốc tế và có sự cập nhập thông tin để tăng sự hiểu biết .
Có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nền giáo dục ở các cấp học, đánh gía chất lượng theo chương trình đào tạo để có lối đi đúng đắn cho giáo dục Việt Nam hiện đại.

Chương 3 :PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM
I. NHỮNG MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẾN NĂM 2020
1. Mục tiêu chung:
Trước hết tạo bước chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục theo hướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp mục tiêu của Việt Nam, phục vụ thiết thực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước của từng vùng từng địa phương hướng tới 1 xã hội học tập, pjấn đấu đưa giáo dục nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên 1 số lĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực.
Ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhuồn nhân lực đặc biệt chú trọng nguồn nhân lực khoa học công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề trực tiếp góp phần nâng cao sức mạnh của nền kinh tế, đẩy mạnh tiến đô phổ cấp trung học cơ sở.
Đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp bậc học và trình độ đào tạo, phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô vừa nâng cao chất lượng hiệu quả và đổi mới phương pháp dậy học, đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát triển giáo dục.
2. Mục tiêu cụ thể:
Đối với giáo dục mầm non thì cần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ trước 6 tuổi, tạo cơ sở để trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, thẩm mỹ… mở rộng hệ thống nhà trẻ và trường mẫu giáo trên mọi địa bàn dân cư, đặc biệt là vùng nông thôn. Phấn đấu đến năm 2010 hầu hết trẻ em đều được chăm sóc, giáo dục bằng những hình thức thích hợp, quản lý lệ suy dinh dưỡng của trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non xuống 20%-15% năm 2010.
Về giáo dục phổ thông: thì thực hiện toàn diện về đức trí thể mỹ, cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ bản hệ thống và tính hướng nghiệp, tiếp cận trình độ của các nước phát triển xây dựng thái độ, phương pháp học tập đúng đắn, sáng tạo lòng ham học hỏi…
Ở bậc tiểu học cần củng cố và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước, tăng tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường từ 95% năm 2000 đến 97% năm 2010.
Ở bậc trung học cơ sở,cần cung cấp cho học sinh học vấn phổ thông cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ thuật hướng nghiệp để có định hướng nghề nghiệp.
Phấn đâu đạt chuẩn phổ cập trung học cở sở ở các thành phố, đô thị, vùng kinh tế phát triển vào năm 2005 và trong cả nước vào năm 2010, tăng tỷ lệ học sinh nâng lên 90% năm 2010.
Ở bậc trung học phổ thông thì thực hiện chương trình phân ban hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có kiến thức cơ bản theo chuẩn thống nhất và tạo điều kiện cho học sinh phát huy hết năng lực của mình.
Tăng tỷ lệ học sinh trong độ tuổi vào trung học phổ thông từ 38% năm 2000 lên 50% năm 2010.
Đối với giáo dục nghề nghiệp cần đặc biệt quan tâm đến nâng cao chất lượng dậy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại, gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, với việc làm trong qua trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế… mở rộng đào tạo kỹ thuật viên có nghiệp vụ kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp.
Đối với bậc trung học chuyên nghiệp thì thu hút học sinh trong độ tuổi vào các trường trung học chuyên nghiệp đạt 10% năm 2005 và 15% năm 2010.
Dạy nghề thu hút khoảng 15% số học sinh vào các trường dạy nghề, và khoảng 10% vào trường trung học chuyên nghiệp.
Về mục tiêu với giáo dục cao đẳng, đại học, sau đại học để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực có trình độ phù hợp với cơ cấu kinh tế xã hội của thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, nâng cao khả năng hội nhập của đất nước, tăng cường thích ứng với việc làm trong xã hội, năng lực tự tạo việc làm cho mình và người khác cần:
Nâng cao tỷ lệ sinh viên lên 200/ 1 vạn dân vào năm 2010 tăng quy mô đào tạo thạc sỹ và nghiên cứu sinh lên cao hơn nữa.
Còn trong giáo dục không chính quy : là 1 hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người ở mọi trình độ, lứa tuổi mọi nơi có thể học tập suất đời phù hợp với hoàn cảnh điều kiện của mỗi cá nhân góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực.
Cần quan tâm đến trẻ em khuyết tật, giáo dục trẻ em khuyết tật là tạo cơ hội cho trẻ khuyết tật được học tập ở 1 trong các loại hình lớp hoà nhập bán hoà nhập hoặc chuyên biệt đạt 70% vào năm 2010.
II . CÁC GIẢI PHÁP, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
1.Đổi mới mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, tiếp cận với trình độ tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và trên thế giới.
Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, chú trọng giáo dục thể chất, bổi dưỡng nhân cách, hiện đại hoá trang thiết bị giảng dậy và học tập.
2. Trong giáo dục phổ thông, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, thực hiện giảm tải, cơ cấu chương trình hợp lý đảm bảo chuẩn kiến thức phổ thông.
Chú trọng và nâng cao kiến thức tin học, ngoại ngữ cho học sinh, thực hiện và sử dụng sách giáo khoa mới.
Xây dựng và ban hành danh mục ngành nghề đào tạo, đổi mới và chuẩn hoá nội dung theo hướng tăng kỹ năng thực hành, năng lực tự tạo việc.
Ở giáo dục đại học và sau đại học thì cần tiến hành đổi mới mạnh mẽ chương trình đào tạo theo hướng đa dạng hoá chuẩn hoá, hiện đại hoá…
Ban hành chương trình khung cho đại học trong năm học mới, đổi mới chế độ thi cử, chế độ tuyển sinh, xây dựng quy trình chất lượng cao.
3. Phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới phương pháp giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu và nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục.
Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục, đổi mới chương trình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, giảng viên, rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức nhà giáo.
Riêng với giáo viên mầm non cần đào tạo nhiều chính quy để đáp ứng nhu cầu giáo viên cho các cơ sở giáo dục mầm non công lập và dân lập, tiến tới chuẩn hoá đội ngũ giáo viên mầm non.
Đồng thời điều chỉnh cơ cấu đội ngũ giáo viên phổ thông, tăng cường giáo viên nhạc hoạ, thể dục thể thao… Đặc biệt chú trọng đầu tư cho việc xây dựng đội ngũ giáo viên ở miền núi, vùng sâu…
Đối với các trường dậy nghề phải bổ sung và tăng cường giáo viên cho 1 số lĩnh vực mới, luân phiên bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Cần khẩn trương đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên bậc đại học, lựa chọn các sinh viên giỏi làm nguồn cho lớp giảng viên kế tiếp.
Không ngừng hoàn thiện định mức lao động, chế độ làm việc, chế độ chính sách đối với nhà giáo.
Bên cạnh do phải tăng cường năng lực đào tạo và đổi mới chương trình đào tạo các trường sư phạm và các khoa sư phạm, ưu tiên đào tạo người dân tộc thiểu số và giáo viên biết tiếng dân tộc.
4. Đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới về cơ bản tư duy và phương thức quản lý giáo dục theo hướng nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước phân cấp mạnh mẽ nhằm phát huy tính chủ động tự chịu trách nhiệm.
Trước hết là nâng cao hiệu quả chỉ đạo tập trung của chính phủ, đổi mới cơ chế và phương thức quản lý giáo dục theo hướng phân cấp quản lý để phát huy sức sáng tạo của các cấp.
Thứ hai là tăng cường công tác lập kế hoạch, thực hiện đủ cách hành chính trong lĩnh vực giáo dục.
Quan trọng hơn cả là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục, ban hành các văn bản để phát triển giáo dục theo đúng đường lối chủ truơng.
5. Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục như cơ cấu lại hệ thống giáo dục đáp ứng nhu cầu của đất nước như:
Mở thêm cơ sở giáo dục mầm non.
Phát triển mạng lưới trường phổ thông rộng khắp trên toàn quốc.
Thực hiện phân ban ở bậc phổ thông trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức.
Củng cố mở thêm cơ sở dạy nghề.
Triển khai quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng.
Củng cố mở rộng các trung tâm giáo dục thường xuyên.
6. Tăng cường nguồn tài chính và cơ sở vật chất cho giáo dục.
Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư cho giáo dục trong tương quan với các ngành khác, ngoài ra còn huy động thêm nguồn tài chính khác cho giáo dục.
Đổi mới cơ chế tài chính theo hướng song song với trao quyền về chủ động tài chính cho giáo dục.
Tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giảng dạy trong giáo dục, xây dựng phòng thí nghiệm, thư viện…
7. Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục gồm một số vấn đề sau:
Phát triển các trường ngoài công lập, mở rộng các quỹ khuyến học, bảo trợ giáo dục…
Xây dựng nhà trường thành trung tâm văn hoá, môi trường giáo dục lành mạnh, toàn diện cả con người.
8. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục, khuyến khích mở rộng và đẩy mạnh các quan hệ hợp tác về đào tạo, nghiên cứu với nước ngoài.
Chúng ta phải tranh thủ huy động nguồn lực từ bên ngoài, tăng dự án viện trợ vật chất, giúp đỡ đào tạo, giảng dạy…như các trang thiết bị hiện đại và các chuyên gia giáo dục sang đao tạo giáo dục ở Việt Nam
Triển khai hợp tác nghiên cứu, đầu tư xây dựng các công trình dành cho giáo dục. nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật để phát triển giáo dục .
Đảng và Nhà nước phải tăng cường và có những chính sách khuyến khích các chủ đầu tư nước ngoài có kinh nghiệm tiềm lực, truyền thống đầu tư và tập trung cho Việt Nam tiến tới đưa nền giáo dục Việt Nam vươn xa hơn nữa.
KẾT LUẬN

Như vậy để giáo dục Việt Nam ngày càng có những chuyển biến sâu sắc cả về chất và lượng đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải nhanh chóng có những chỉ đạo đúng đắn vì đây là một trong những lĩnh vực quan trọng mang tính quyết định đến sự phát triển của cả một đất nước. Quan đây cho thấy sự nghiệp giáo dục không chỉ của Đảng, Nhà nước mà còn của tất cả mọi người dân, mọi thế hệ trẻ đang tham gia vào quá trình hội nhậop, đó sẽ là lực lượng quan trọng quyết định giáo dục nước nhà có sánh ngang các nước trong khu vực và vươn ra thế giới được không.
Đối mặt với những thách thức của thời kỳ hội nhập cũng cần phải giữ gìn những bản sắc dân tộc, giáo dục hội nhập không hòa tan nhằm nâng cao hơn trình độ của con người trong thời kỳ công nghiệp hóa đất nước đồng thời huy động được các nguồn đầu tư cho giáo dục để thực hiện tốt các mục tiêu về giáo dục. Và trên hết nâng cao nhận thức của thế hệ trẻ trong học tập, xây dựng và bảo về Tổ Quốc, giữ vững nền chính trị, thúc đẩy kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ nước ta phát triển trên nền tảng tri thức.

Không có nhận xét nào: