2.1. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC VIỆT
2.1.1. Khái quát chung về vị trí địa lý và phân bố
- Dân tộc Việt là nhóm dân cư đông nhất nước ta, với dân số khoảng 68 triệu người, phân bố hầu khắp các địa phương trên toàn quốc. Trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng và các trung tâm, thành phố lớn.
2.1.2. Sinh hoạt kinh tế
+ Nông nghiệp: Phần lớn người Việt sinh sống tập chung chủ yếu ở các đồng bằng châu thổ vì vậy canh tác ruộng nước là loại hình canh tác nông nghiệp chủ yếu, sớm hình thành nên kỹ thuật canh tác ruộng nước khá hoàn chỉnh “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống ” và biết đến kỹ thuật làm thuỷ lợi như đập, kênh, mương, phai, các loại gàu tát nước như gàu sòng, gàu dai… để phục vụ cho việc tưới tiêu, và cũng sớm biết sử dụng sức kéo của trâu bò trong sản xuất
+ Hái lượm và săn bắn.
Trước đây là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng trong những năm mất mùa cũng như là nguồn thực phẩm để cải thiện trong bữa ăn hàng ngày với các sản vật như rau, củ, quả....Công việc này chủ yếu là do phụ nữ làm, ngoài ra họ còn thu nhặt lâm thổ sản (nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến...khai thác mây tre, bương...). Đối với săn bắn trước đây phát triển như săn bắn hổ, trăn, lợn, nai, chồn.... nhưng hiện nay giảm dần. Công cụ săn bắn chủ yếu là súng kíp, súng săn, nỏ, tên tẩm độc, kết hợp với các loại bẫy,..... hình thức săn các nhân và tập thể
+ Chăn nuôi.
Họ chăn nuội trâu, bò, chủ yếu làm sức kéo trong nông nghiệp. Trâu nuôi nhiều hơn bò, trước đây nuôi theo cách thả rông hiện nay đã chú ý hơn trong việc chăm sóc. Lợn, gà được nuôi trong chuồng trại và được chăm sóc chu đáo, một số nơi người dân còn nuôi ong lấy mật. mật ong chủ yếu để mua bán trao đổi.
+ Nghề thủ công.
Nghề thủ công của người Việt khá phát triển với nhiều ngành nghề khác nhau như nghề mộc với nhiều làng nghề nổi tiếng như Đồng kỵ, la suyên….với các sản phẩm gỗ như sập gụ, tủ chè, tràng kỷ,… nghề gốm, đan lát, dệt vải, giấy…
2.1.3. Văn hoá vật chất.
2.1.3.1. Làng bản và nhà ở.
Làng người Việt trước đây có lễ gọi là “chạ” và được xây dựng ở những chỗ tiện nước sinh hoạt, nước sản xuất và cũng là nơi cao ráo để tránh lũ lụt... Xung quanh làng có luỹ tre bao bọc để chống thú dữ, bão, giặc....Mỗi làng trước đây chỉ có dăm chục nóc nhà với các họ có cùng huyết thống với nhau, nhà sàn là loại hình chủ yếu bên cạnh đó cũng có những nhà đất nguyên thuỷ. Sau này loại hình nhà sàn dần mất ưu thế đi nhường chỗ cho nhà đất hiện nay. Trong mỗi làng có một nhà công cộng làm nơi họp, diễn ra nghi lễ nông nghiệp, có miếu thờ thần đất của làng về sau này nhà công cộng và miếu thổ thần được ghép lại với nhau thành ngôi đình làng như hiện nay. KHUÔN VIÊN
Đơn vị nhỏ nhất để cấu thành làng xóm là các khuôn viên của các hộ gia đình . Qui mô của các khuôn viên rất khác nhau : các hộ gốc trong làng hoặc các hộ khá giả thường có khuôn viên tương đối rộng . Còn những hộ nghèo hoặc mới nhập cư thì khuôn viên khá nhỏ hẹp. Về quy mô có khác nhau, nhưng cách bố trí nhà cửa, vườn tược trong khuôn viên thì hầu như người ta đều theo một khuôn mẫu chung: bao lấy khuôn viên là một vòng rào, vật liệu cũng như phương pháp xây dựng tùy thuộc vào khả năng kinh tế và sở thích của từng chủ nhân của khuôn viên đó .
Từ trong khuôn viên thông ra ngoài thường phải qua cổng tiền hoặc cổng hậu. Cổng tiền bao giờ cũng phải mở lệch về một bên, không được nhìn thẳng vào gian chính giữa nhà. Kiểu cách và độ bền vững của cổng cũng phụ thuộc vào túi tiền và sở thích của chủ nhân. Cổng thường được đặt ở đầu ngõ , xưa nhiều nhà cũng có cổng mẫn. Những người khá giả xây cổng bằng gạch hoặc gỗ. Còn những người nghèo thì làm cổng trống hay chỉ là một bộ khung cột bằng tre, cánh cổng là một tấm liếp tre đơn đan sơ sài .
Cách bố trí nhà cửa trong khuôn viên giữa người giàu và người nghèo cũng không khác nhau là mấy: giữa khu đất là nhà ở chính và các nhà phụ thuộc ( nhà bếp, nhà kho, chuồng gia súc ) vườn, ao. Nhiều hộ ở góc vườn sau nhà có nhiều miếu thổ thần hoặc trước nhà có cây hương.
Tùy theo hình thức kết hợp các nhà trong khuôn viên mà tạo thành các tổ hợp nhà với tên gọi khác nhau :
- Tổ nhà hình chữ môn: thường là của những nhà giàu có. Một nhà chính, 2 nhà phụ 2 bên ôm lấy cái sân ở giữa.
- Tổ hợp nhà chữ cổng: tổ hợp này nhà giữa nối hai nhà trước và sau được gọi là ống muống
- Tổ hợp nhà chữ nhị và chữ tam: gồm 2 nhà hoặc 3 nhà xếp song hành với nhau
- Tổ hợp nhà hình thước thợ: một trong những tổ hợp rất phổ biến vì cách bố trí nhà này rất hợp lí, nhất là đối với gia đình ít người có mặt ở nhà thường xuyên. Hằng ngày mọi người đi lao động chỉ để lại một người già hay trẻ nhỏ trông nhà và làm các công việc vặt, nếu người này ở nhà dứơi thì vẫn quan sát được nhà trên, vườn tược và ngược lại .
Ở miền Nam có thêm một số tổ hợp khác hoặc cũng giống như miền Bắc nhưng tên gọi khác :
- Tổ hợp nhà chữ đinh: nhà trên và nhà dưới được kết hợp với nhau thành chữ đinh. Nhà sau đấu vào chính giữa của nhà trước, đòn dông của nó vuông góc với đòn dông của nhà trước. Nhà sau được gọi là chuôi vồ. Còn nhà chữ đinh ở miền, chuôi vồ không đấu vào gian chính giữa của nhà trước mà lệch sàn một bên.
- Tổ hợp nhà nối đọi ( xếp đọi, sắp đọi hay sóc đọi ): tổ hợp này chỉ khác về tên gọi còn cách bố trí 2 nhà giống như nhà chữ nhị ở miền Bắc. Ở miền Nam người ta kiêng không làm tổ hợp nhà chữ tam. Nếu làm thì phải làm thêm một nhà giả và gọi là sóc đọi
- Tổ hợp nhà đút đít: 2 nhà chính và phụ được làm thẳng hàng nhưng nhà phụ buộc phải thấp hơn nhà chính. Tổ hợp này rất phổ biến ở vùng Đông Bắc Bắc Bộ .- Tổ hợp nhà bát dần( tám đóng tám quánh ). Tổ hợp này thường của những người giàu có. Nhà cửa với quy mô lớn và được gia công rất công phu
Một số biến dạng của các tổ hợp trên :
- Tổ hợp nhà sóc đọi có nhà sau dài hơn nhà trước: nhà sau dài hơn nhà trước có cửa nhìn ra sân và nhìn được qua đầu hồi nhà trước.
- Tổ hợp nhà nối đọi có sân tương( sân nước trong nhà ): nhà phụ tách khỏi nhà chính khoảng 2 m. Lối đi nối giữa 2 nhà có mái che. Phần còn lại để lộ thiên là nơi có bể nước hoặc đặt các lu đựng nước.
- Tổ hợp nhà chữ đinh có sân tương( sân trong ): nhà sau cũng được tách khỏi nhà trước 2- 3 m tạo thành cái sân nhỏ, chức năng của sân này giống như sân của nhà nối đọi có sân tương.
Nhận xét chung
Vật liệu xây dựng
Bộ khung nhà của cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Bộ chủ yếu là thảo mộc và kết hợp với ít đất đá. Gỗ để làm nhà của các cư dân miền Bắc và miền Trung thường là gỗ tốt. Chỉ có những người nghèo mới làm nhà bằng tre hoặc gỗ tạp. Trước cách mạng, nhà gạch ngói rất ít, chủ yếu vẫn là nhà gỗ. Gần đây gỗ tốt ngày càng hiếm nên vật liệu cũng phải đổi mới, người ta dùng nhều gạch, đá, sắt thép và xi măng thay gỗ. Do có sự thay đổi về vật liệi xây dựng mà các công thức cổ truyền kèo cột xà cũng thay đổi theo và tường chịu lưc thay đổi cho cột chịu lực.
Vật lịệu làm tường vách: ở miền Bắc những cư dân sống bờ ven biển hằng năm thường bị ngập lụt nên nhà được che bằng vách( nứa hay tre) rất phổ biến. Những người khá giả thay vách bằng ván mỏng( đố lụa ). Loại vách và đố này rất phù hợp với vùng lũ lụt vì khi có lũ người ta tháo hết vách ( hoặc đố) để nước chaỷ qua nhà dễ dàng không làm nhà bị đổ hoặc trôi. Nước rút người ta lại dựng vách như cũ không khó nhăn gì.
Còn ở những nơi cao ráo, nhất là vùng đồi gò, tường vách đa dạng hơn nhiều: xây bằng gạch, đắp bằng đất, trình, đất kết hợp với rơm dạ vắt vào xương tre tất nhiên không loại trừ vách nứa.
Ven vùng biển người ta còn xây tường bằng vỏ sò. Những nơi có nghềề gốm người ta tận dụng những phế phẩm gốm để xây tường. Ở miền Trung và miền Nam, vách còn được làm bằng lá dừa hoặc lá dừa nước.
Vật liệu lợp: nhà miền Băc và miền Trung, mái lợp bằng lá gồi và rở rạ là chủ yếu. Nhưng cây lá gồi ngày càng hiếm nên rơm rạ, cỏ tranh, cỏ lác trở nên phổ biến hơn. Nay có thêm các loại ngói, nhưng ngoài ngói tôn thì lá dừa vẫn còn là vật liệu chính.
Về kết cấu bộ khung nhà: từ Bắc đến Nam bộ khung nhà người Việt đều được hình thành trên cơ sở các vì kèo. Mỗi bộ khung nhà, ít nhất cũng không thể dưới 2 vì kèo. Bộ khung nhà dựa trên công thức kèo cột xà và nguyên lí cột chịu lực. Nhà miền Bắc có nhiều vì kèo phức tạp hơn nhà miền Trung và miền Nam. Ngoài dáng kèo phổ biến ở cả ba miền vì kèo 3 cột còn có những dạng đặc trưng cho 3 miền như vì kèo miền Bắc và miền Trung. Mặc dù có sự phân hóa như vậy, nhưng cái gốc vẫn là vì kèo nhà miền Bắc.
Về loại hình và các dạng nhà khác nhau: nhà nông thôn người Việt có 2 loại hình chủ yếu là nhà sàn và nhà đất. Nhà sàn là loại hình cổ xưa dấn được thay thế bằng nhà đất. Còn các dạng nhà thì rất phong phú từ 1 nhà đến 1 tổ hợp nhà. Với nhà miền Bắc, các kiểu vì kèo có tên gọi riêng nhưng ở miền Trung và ở miền Nam lại không có tên gọi riêng mà gọi theo tên các dạng nhà
Về tổ chức mặt bằng sinh hoạt, mặt bằng sinh hoạt của miền Trung, Bắc Nam có sự khác nhau, nhất là giữa nhà miền Bắc và Trung. Sự khác biệt này đựoc thể hiện rõ ràng nhất ở dạng nhà 3 gian 2 chái. Với nhà miền Bắc, 3 gian giữa thường để thông nhau. Gian chính giữa quan trọng nhất là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, nơi dành cho ông chủ gia đình và cũng là nơi tiếp khách. 2 gian bên có giường phản dành cho khách nam và nam giớii ở trong nhà. Còn 2 chái dành cho nữ giới đồng thời còn là kho.
Nhà miền Trung và miền Nam gian chính giữa có thể có bàn thờ tổ tiên nhưng thường là ở 2 gian bên. 2 gian bên của 2 gian giữa có vách ngăn làm đôi theo chiều dọc nhà. Phần trước có bàn ghế tiếp khách, phần sau là giường của chủ gia đình, con trai và khách nam…
Các chức năng của ngôi nhà: các chức năng chủ yếu của ngôi nhà thì hấu như cả ba miền đều giống nhau:
- Dành cho sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình
- Sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng
- Nơi giao tiếp
- Học tập
- Sinh đẻ
- Làm các nghề thủ công gia đình
- Chứa đựng lương thực
- Để nông cụ và các đồ nghề khác
- Chế biến thức ăn cho người và gia súc
- Chăn nuôi gia súc.
Những chức năng này cũng có sự chuuyển dịch từ 1 nhà đến 1 tổ hợp nhà.
Khuôn viên: khuôn viên của mỗi hộ đều có nhà cửa, chuồng trại chăn nuôi , vườn tược, nhiều hộ còn có ao các cấu tử này được tổ chức sắp xếp theo nguyên tắc lợi dụng triệt để các nguồn lợi sẵn có của thiên nhiên, mà trong đó ao và vườn là đối tượng khai thác hàng đầu. Mọi sinh vật sống trong không gian đó đều được xem như một quần xá sinh học. Đó là nhìn khuôn viên dưới góc độ sinh thái, còn nếu nhìn dưới góc độ kinh tế thi nó chính là mô hình kinh tế phong kiến tiểu nông tự cung tự cấp hoàn thiện nhất.
Ngôi nhà với tính chất và xã hội của chủ nhân. Ngôi nhà của nông thôn người Việt là tổ ấm của các gia đình nhỏ. Mỗi gia đình tong đó thường có 2 đến 3 thế hệ chung sống với nhau. Đến nay những gia đình có 3 thế hệ cùng chung sống dưới môt mái nhà cũng đã ít dần, tay vào đó là những gia đình hạt nhân tức là chỉ có vợ chồng và con cái của họ.
Nhìn vào nhưng phong tục tập quán hay là những lối sống trong nhà, nhà cửa không chỉ phản ánh tính chất gia đình mà còn cho thấy hoàn cảnh kinh tế của chủ nhân.
Tôn giáo tín ngưỡng liên quan đến nhà cửa. Nhà cửa cũng như mồ mả, người nông dân Việt quan niệm không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp mà còn có ảnh hưởng lâu dài đến tính mệnh của các thành viên trong nhà, do vậy rất cẩn trọng trong việc xây dựng nhà cửa: từ khâu chọn đất, chọn hướng cho đến khi ngôi nhà được hoàn tất
Đặc điểm nhà.
1 . Nhà miền Bắc
Nhà ở trung du, đồng bằng và ven biển. Nhà đất là loại hình nhà phổ biển và chủ yếu trong nông thôn miền Bắc. Nhà sàn cũng có nhưng rất ít, ở một vài nơi ven trung du giáp miền núi phía Bắc và ven biến Đông Bắc Bộ hay ven một số đảo. Nhà sàn chỉ khác nhà đất đôi chút về cách bố chí trên mặt bằng sinh hoạt, còn bộ khung nhà hầu như không có gì khác nhà đất chỉ trừ các cột dài hơn.
Về nhà đất thì tính thống nhất rất cao, nếu như có sự khác biệt nào đó thì chỉ là một số chi tiết mang dấu ấn của các tiẻu vùng.
Với nhà ở trung du, ngoài nhà sàn còn nhà đất không khác gì nhà ở đồng bằng. Nhà ở trung du thường có quy mô to lớn vì dễ kiếm gỗ hơn đồng bằng.
Nhà ở vùng Đông Bắc phần lớn tường được làm bằng đất và bộ khung với các vì kèo đơn giản. Ở vùng ven biển Đông Bắc còn có nhà sàn ở trên, mặt nước của cư dân đánh cá, còn nhà ven biển vùng đồng bằng thường thấp, mái lợp dày, phủ nóc rất nặng để chống bão. Nhà trong vùng đồng bằng, nhất là ở vùng trũng, nền nhà được tôn ao để tránh ngập nước về mùa mưa lũ.
2. Nhà miền Trung
Kết cấu bộ khung nhà
Bộ khung nhà miền Trung thường được làm bằng gỗ tốt và có quy định trong việc dùng gỗ vào các bộ phận của nhà khá chặt chẽ. Gỗ chua và gỗ vu là 2 loại được ưa chuộng. Dù nhà to hay nhỏ người ta đều cố gắng làm như vậy. Đến nay hiếm gỗ nên quy định đó không còn thực hiện nữa. Gỗ lim tuy rất tốt được cư dân mien Bắc coi trọng nhưng ở miền Trung người ta không dùng làm nhà vì cho rằng gỗ lim có chất độc.
Mặt bằng sinh hoạt
* Nhà ở Võ Ninh, huyện Quảng Ninh Quảng Bình. Nhà rường 2 gian 2 chái. Chái bên trái giáp cửa sổ phía trước có 1 phản gỗ, lùi về phía sau, một giường cá nhân giành cho con trai.
Gian thứ hai có một bộ bàn ghế để tiếp khách. Sau bộ bàn ghế là một tủ búyp phê. Giáp vách hậu là một hòm gian
Gian thứ ba có một chõng tre và giường của chủ nhà. Gian này có một đoạn vách ngăn từ hàng cột thứ tư đến hàng cột thứ năm làm thành một buồng nhỏ ở gian hồi bên phải.
Gian hồi bên phải có cửa thông với nhà bếp. Trong nhà bếp có một chõng tre và bếp.
* Nhà ở thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy Quảng Bình. Nhà rường một gian 2 chái, xung quanh xây tường gạch. Mặt trước nhà cũng có cửa lá như nhà ở trên. Đó là những tấm liếp làm bằng lá cỏ dùng làm cánh cửa, có thể nâng lên hạ xuống được.
Chái bên trái có một bộ phận gỗ dành cho khách, một bàn học sinh và một giường của con trai.
Gian giữa có bàn ghế tiếp khách và 2 giường, 1 của chủ nhà và 1 của con trai. Chái bên phải có bàn ăn, 1 giường cá nhân và 1 buồng nhỏ dành cho vợ chủ nhà. Chái này có cửa thông với nhà bếp.
* Nhà người nguồn ở thôn Tân Lí, xã Minh Hóa, huyện Tuyên Hóa, Quảng Bình
Nhà làm theo kiểu nhà cặp, 3 gian 2 chái với vì kèo 4 hàng cột. Có gác xép đặt trên trếng của 3 gian giữa. Cửa sổ và cửa ra vào đều là cửa lùa. Mặt bằng sinh hoạt được chia làm 2 phần theo chiều ngang, phân biệt nhà trong và nhà ngoài, nhà ngoài dành cho sinh hoạt của nam giới, còn nhà trong đặt bếp dành cho nữ giới.
Bên ngoài vách của gian nhà hồi, bên phải có một cái sạp để nước gọi là chạn
3 .Nhà ở miền Nam Trung Bộ
Nhà ở miền Nam Trung Bộ có những nét khác với nhà ở Bình Trị Thiên và gần với nhà ở vùng đồng bằng ở sông Cửu Long
Mặt bằng sinh hoạt :
* Nhà thôn Dương Nỗ Đông, xã Phú Dương, huyện Hương Phú, Thừa Thiên Huế. Bộ khung của nhà này giống như nhà ở Quảng Bình nhưng đựơc chạm trổ rất công phu.
Một tổ hợp hai nhà, nhà chính ba gian hai chái. Bộ khung theo kiểu nhà rường có hiên rộng ở mặt trước. Xung quanh nhà tường xây bằng gạch. Nhà phụ ghép vào đầu hồi bên phải của nhà chính.
Nhà chính: chái bên trái không có hiên được ngăn thành hai ô, ô phía trong được dùng làm kho, ô bên ngoài để chum vại và các thứ linh tinh khác. Gian thứ nhất, phía trước có bàn ghế để tiếp khách, một bộ bàn ghế nhựa dành cho khách. Còn phía sau là một ô nhỏ trong có giường dành cho con trai và một cái bàn nhỏ.
Gian thứ hai( gian chính giữa ) phía trước cũng có một bộ bàn ghế tiếp khách. Về phía sau cũng được ngăn thành một ô nhỏ bên trong có buýp phê và hai bàn thờ.
Gian thứ ba, về phía trước có một giường đôi của con trai, ở phía sau là một bộ bàn ghế ngựa dành cho chủ nhà và một tủ lớn.
Chái bên phải cũng được ngăn thành hai ô, ô bên ngoài đặt giường con dâu, ở bên trong dùng làm kho. Về phía trước nhà là một bể nước khá lớn.
Nhà phụ được chia làm 2 khu vực, một ở phía trước dành cho sinh hoạt của các con gái. Nơi đây có hai giường và một bộ phản gỗ để các cô gái ngồi làm nón Bàn ăn cũng được đặt ở khu vực này. Còn phần phía sau chia thành 2 ngăn, ngăn phía trước có chạn bát, bếp, cạnh bếp là bàn thờ thổ công. Ngăn sau đặt cối xay. Giáp đầu hồi là chuồng lợn và đặt bếp nấu cám lợn
* Nhà ở xã Diên An, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Ở đây phổ biến là một tổ hợp hai nhà: một nhà chính và một nhà phụ. Sự kết hợp 2 nhà này chỉ khác nhau ở vị trí nhà phụ bên cạnh nhà chính( hoặc bên phải hoặc bên trái ).
4. Nhà miền Nam
Nhà nông thôn miền Nam phổ biến vẫn là nhà đất, nhà sàn chỉ có ở vùng ngập nước định kì như Đồng Tháp, Kiên Giang và Minh Hải. Nói chung nhà nông thôn miền Nam khá đơn giản, người ta sử dụng những vật liệu sẵn có tại chỗ, rẻ tiền, ít gia công, không đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao.
Cửa giả, tường vách rất sơ sài, có nhà hầu như không có vách cửa. Ngoài nhà cột kê cũng không thiếu nhà cộ chon( cột cặm ). Về kết cấu bộ khung nhà và cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt dù là nhà miền Đông hay là nhà miền Tây, nhà đất hay nhà sàn cũng ít có sự khác nhau.
Mặt bằng sinh hoạt
Nhà đất
A ,Nhà có chái
Nhà có 1 hoặc 2 chái ở đầu hồi. Nhà chính ở số gian thường lẻ. Phổ biến là nhà 3 gian 1 hoặc 2 chái. Gian giữa có thể lớn hơn 2 gian 2 bên
B , Nhà nối đọi ( xếp đọi, sắp đọi, sóc đọi )
Nhà trên thường 3 gian, nhà dưới cùng chiều dài với nhà trên, nhưng chiều ngang hẹp hơn
C , Nhà chữ đinh
Như nhà nối đọi nhưng nhà dưới nằm ngang nhưng quay đầu hồi ra phía trước và có lối vào riêng cùng hướng ra phía trước như nhà trên. Loại này rất phổ biến ở miền Nam Bộ ( kiểu này cũng rất phổ biến từ Quảng Ngãi trở vào )
D , Nhà bát dần ( 8 đóng 8 quyết )
Loại này là loại nhà hoàn chỉnh về kết cấu, gia công kĩ lưỡng, quy mô lớn. Mặt bằng sinh hoạt như nhà 3 hoặc 5 gian 2 chái.
Nhà sàn
Nhà sàn vẫn là ngôi nhà 3 gian quen thuộc nhưng đằng trước có mái riêng gọi là thảo bạt. Loại nhà này phổ biến ở Kiên Giang. Nhà ở ven sông Rạch nhìn ra đường phía trước.
2.1.3.2. Trang phục.
Người Kinh ở phía bắc( vùng đất Kinh bắc):
* Nón
Chiếc nón là biểu tượng của con người Việt Nam và người phụ nữ Việt Nam, nhưng có lẽ không ở đâu như miền Bắc, chiếc nón lại lâu đời và đa dạng như vậy. Hà Nội 36 phố phường có cả một phố ( Hàng Nón ) mua bán đủ kiểu nón của dân kinh thành và vùng lân cận. Cả nam lẫn nữ, tiện dân cũng như kẻ sang, quan lại đều dùng nón, nhưng nón của phụ nữ hơn cả một vật thường tinh che nắng đôi mưa mà còn tạo nên vẻ đẹp riêng, vẻ đẹp cô gái Việt Nam không thể thiếu cánh nón:
Cái nón ba tầm
Quai thao một nắm ,áo trầm một đôi
Cái thắt lưng em bảy tám vuông sồi
Loại nón đặc trưng cho dân Kinh Bắc, Hà Nội và một số vùng lân cận là nón thúng. Nón làm bằng lá, mặt phẳng rộng, thành cao, nón thúng quai thao ken bằng lá cọ mỏng khâu bằng móc trắng như cước, phía trong nón thêu hay dùng những mảnh gương nhỏ xếp thành hình hoa, rồng, phượng. Giữa nón có khua nón quang dầu, chính giữa đáy khua gắn chiếc chén bạc, chạm hoa lá, hình lưỡng long chầu nguyệt, gắn tấm gương soi, để các bà, các cô giữ ý soi gương. Quai thao thường được gọi là cổ thao, gồm 10 sợi dây tròn, dệt bện bằng tơ, 2 đầu có tua buôc thành nhiều quả thao. Thao nhuộm thâm kĩ, buộc vào 2 bên nón bằng 2 cái thẻ bằng bạc, hình tam giác, trên mặt trạm khắc hình hoa lá, rồng. Thời trước thao có tiếng đẹp là thao của thợ làng Triều Khúc, Tương Giang ( Tiên Sơn). Loại nón quai thao này thường hợp với bộ áo năm thân mớ ba mớ bảy, áo tứ thân, làm tôn lên vẻ đẹp của cô gái Kinh xưa:
Ai làm cái nón quai thao
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh
Nón của các bà vãi, các cụ bà đi lễ chùa là nón ba tầm. Cũng là nón thúng nhưng sâu và mảnh dẻ hơn.
Các bà buôn bán nới thành thị, nhất là ở chợ quê thì đội nón nhị thốn
Những năm đầu thế kỉ này, Hà Nội và các tỉnh kế cận còn sử dụng nón chuôm( làm ở làng Chuông- Hà Tây ) và các nón từ nơi khác tới như nón Nghề, quai thao
Cô kia nón Nghề quai thao
Chồng cô đánh giặc đến bao giờ về
Ngoài các loại nón trên, phụ nữ Bắc thời kì này còn sử dụng các các loại nón từ miền Trung mang ra như nón dứa Huế ( hay còn gọi là nón bài thơ ) được làm bằng lọai lá dứa mỏng, trong suốt, khâu bằng móc nhỏ khéo như dệt vải đội rất mát. Thường trong lần lá nón, người ta ghép hình bài thơ, khi soi nón lên trông khá rõ mang tính chất như hoa văn trang trí. Nón Gò Găng ( Bình Định ) cũng nổi tiếng bởi lợp bằng lá dứa. Nón Ba Đòn ( Quảng Bình ) và nón Kỳ Anh thì lợp bằng loại lá gồi nhỏ, lấy từ trong rừng xa rất tốn công.
Phụ nữ Kinh bắc để tóc dài quấn quanh đầu, bên ngoài chít một cái “ Khăn mỏ quạ”, là một loại khăn vuông gấp chéo, khi buộc tạo thành một hình tam giác trên đỉnh đầu. Vào nhừng ngày nắng to, họ thường đội thêm một cái nón quai thao. Áo có nhiều loại: áo cánh ngắn, áo tứ thân, áo năm thân, áo mớ ba mớ bảy.
- Áo tứ thân ngắn là loại áo tứ thân cổ tròn, xẻ tà, cài khuy trước ngực, được may bằng vải mộc nhuộm nâu. Áo tứ thân dài là áo dài đến ngang ống chân. Khi mặc, người phụ nữ thường bỏ buông xuôi hai vạt trước hoặc dùng hai vạt trước buộc trước bụng. Ngoài ra còn có đổi thân, đổi vạt…
- Áo năm thân còn được gọi la áo cổ cao có hò, cài khuy nách phải. Cổ tròn cao khoảng 3 cm ở phái trước của áo ngoài hai than chính còn có một thân áo lửng ở bên trong. xẻ tà hai bên, có loại áo ngắn và áo dài. Đây thường là kiểu áo của những người khá giả.
- Ngoài ra còn có áo Tang, áo Tơi (may bằng vải xô, màu trắng, may kiểu áo dài Tứ thân hoặc năm thân, xổ gấu).
Phụ nữ Kinh Bắc mặc Yếm rất to, che kín cả phần ngực và bụng, buộc dây ở cả cổ và sau lưng. Yếm cổ xây( cổ xẻ hoặc cổ thuyền) khoét tròn, được viền tỉ mi, tôn thêm vẻ đẹp của “Cổ cao ba ngấn”. Yếm thường có màu nâu, màu hoa hiên hoặc yếm đào, yếm đỏ (ngày hội). Yếm được may một cách tỉ mỉ, giặt và phơi kín đáo, mặc bên trong áo dài, buông vạt, một phần thân yếm trước phô thấp thoáng sau 2 tà áo. Vào ngày nóng bức, các cô thôn nữ thường mặc áo Yếm không khoác áo ngoài, để hở cả phần lưng và lườn. Nói về Váy, phụ nữ Kinh Bắc thường mặc váy hình ống dài va rộng, chiết cạp, mặc luồn qua đầu, thắt dải rút thường có màu đen. Chất liệu tùy thuộc vào điều kiện của từng người. Nhà giàu mặc váy lĩnh the còn các cô gái nhà nghèo thì váy vải. Chiếc váy đụp giản đơn, có gam màu tối vừa tiện lợi với cuộc sống làng quê xa xưa lại vừa mang giá trị thẩm mĩ rất tinh tế khi kết hợp với những dải thắt lưng màu hoa lý, hồng đào...
Thắt lưng: Là một bộ phận phụ thể hiện sự khéo léo của người phụ nữ và tạo dáng thon thả hơn cho trang phục. Thắt lưng thường có hai loại: một loại dùng bằng các khổ lụa nhiều màu. Đó là những mảnh vải đẹp khổ dài may bằng sồi, lụa... và một loại thắt lưng bao. Người xưa thương biến Thắt lưng thành túi dài có thể đựng tiền, chìa khóa, trầu, thuốc...
Phụ nữ thường ăn trầu, nhuộm răng, đeo xà tích
Người kinh ở Miền Trung (Huế)
Với những điều kiện tự nhiên khác biệt và trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, nhiều biến động, Huế với bản lĩnh, bản sắc vốn có của mình là thành phố đi đầu trong việc bảo vệ những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương mình, đặc sắc khác biệt so với những vùng miền khác.
Nhắc đến trang phục Huế ta nhớ đến hình ảnh người phụ nữ mặc áo dài, đội nón bài thơ e ấp, dịu dàng.
Nón bài thơ: Là những chiếc lá được làm từ lá cọ mềm, khi soi lên ánh nắng sẽ thấy những câu thơ xen kẽ các cánh hoa.
Áo dài Huế có gốc từ chiếc áo năm thân cổ truyền, không dài chấm gót như áo dài Hà Nội và không quá ngắn như áo áo dài Sài Gòn, cổ cao vừa phải và tà không xẻ quá cao.
Trang sức của phụ nữ Huế là: Kiềng đeo cổ và xuyến có đính hạt cườm... trông rất quý phái, phảng phất màu hoàng tộc cổ xưa.
Người kinh ở Nam Bộ:
Xưa kia, người Nam Bộ thường để tóc dài, búi cao và đội chiếc khăn rằn (hoa van ô vuông xen kẽ hai màu đen trắng). Phụ nữ có thêm chiếc nón Ba Tầm, vành rộng che chắn cái nắng khô rực rỡ của trời Nam.
Áo bà Ba là trang phục phổ biến cho cả nam và nữ ở vùng này. Nó có nguồn gốc từ chiéc áo “Xá Xẩu” của người Hoa, được cải tiến cho phù hợp hơn với đời lao động của người dân Việt Nam. Cổ tròn, cài khuy, xẻ tà hai bên, tay dài và có hai túi to hai bên vạt áo.
Nam giới xưa để tóc dài búi ra sau gáy rồi vấn khăn theo kiểu đầu rìu về sau mới cắt tóc ngắn và đội khăn xếp, áo cũng có hai loại áo dài và áo ngắn. Áo dài mặc trong lễ hội là loại áo dài kép (áo trong màu trắng, áo ngoài mầu đen hoặc xanh). Quần theo kiểu chân què cạp lá toạ mầu nâu hoặc mầu trắng, nay mới có quần âu, đi guốc gộc nay được thay bằng giầy hoặc dép
Trang phục tang lễ
Màu tang truyền thống là màu trắng – màu của hành kim – hướng Tây – nơi để mồ mả của người Việt
Trang phục trong lễ tang ngoài mục đích biểu thị tình cảm, thái độ còn là để phân biệt mối quan hệ thân sơ xa gần với người chết.
Có 5 loại tang phục: ( Trảm thôi, cơ phục, đại công, tiểu công, ti ma)
* Trảm thôi : Là trang phục đại tang để trở cha mẹ 3 năm. Trảm thôi nghĩa là may áo không cắt mà chặt vải làm cho miếng vải xơ ra tiều tụy, tỏ ý đau đớn. Loại áo này dài, rộng, tay thụng, may bằng thứ vải rất thô và xấu, không viền gấu, không cài khuy, chỉ buộc dải.
Con trai mặc áo trảm thôi phải buộc thêm một sợi dây gain gang lưng và đội một loại mũ gọi là mũ rơm. Mũ rơm làm bằng rơm hoặc lá chuối khô, ở trên có chằng hai dải vải xô hình chữ nhật, có một quai cũng bằng vải xô để đeo dưới cằm.
Con dâu cũng mặc áo xô gai nhưng không chống gậy, không đội mũ rơm mà xõa tóc, đội mũ mấn( đó là miếng vải xô để hai đầu so le rồi khâu lại một cạnh, chùm lên đầu thành hình chóp)
Con trai, con gái và vợ người chết còn dùng miếng vải xô trắng, gập lại nhiều lần, chít quanh đầu, buộc múi ở phía sau, bỏ thõng hai đầu khăn xuống lưng, gọi là khăn ngang.
* Ti thôi : Ti thôi là trang phục không trọng bằng trảm thôi. Ti là bằng. Gấu áo thường có viền qua loa. Dùng trong trường hợp con trở mẹ ghẻ, mẹ nuôi, chồng để trở vợ, con rể trở bố mẹ vợ....
* Cơ phục : Cũng như ti thôi nhưng áp dụng trong trường hợp để trở bác trai, bác gái, cô chú thím, cô ruột (chưa lập gia đình).
* Đại công : Tang phục dùng thứ vải sợi to, thô. Dùng trong trường hợp cô ruột đã lấy chồng, an hem chị em con chú, con bác.
* Tiểu công : Tang phục dùng thứ vải sợi nhỏ đã làm ki. Dùng trong trường hợp bác, chú, thím họ.
* Ti ma : Tang phục dùng vải sợi nhỏ, mịn. Dùng cho ông bà họ, vợ lẽ cha, anh em năm đời.
2.1.3.3. Ẩm thực
Là cư dân nông nghiêp là chủ yếu vì vậy sản phẩm nông nghiệp là lúa tẻ đó là thành phần chủ yếu của bữa ăn hàng ngày. Lúa nếp chỉ dùng để nấu xôi, làm bánh và dùng trong các ngày lễ hội, đám tang, cưới...Ngoài lúa thì hoa màu ngô, khoai, sắn có vai trò quan trọng trong những ngày giáp hạt...
Thực phẩm dùng trong bữa ăn hàng ngày chủ yếu là rau, quả: như bầu, bí, măng,...được chế biến với nhiều cách khác nhau như luộc, sào, muối chua...Nguồn thức ăn động vật ngày càng có vai trò quan trọng trong khẩu phần ăn như trứng, các, thịt, cua ....sản phẩm chủ yêú của chăn nuôi. Trong những ngày có lễ hội, khách, tết được chế biến một số món như bánh chưng, dày, giò, nem, chả….tuỳ theo mỗi địa phương mà có một số món ăn khác nhau. Đặc biệt người Việt rất ưa dùng các loại mắm (mắm tôm, cá, tép, cáy...) và các loại dưa (cải, hành, cà, kiệu). Tương và các loại gia vị như ớt, tỏi, gừng... cũng thường thấy trong các bữa ăn.
Đồ uống gồm có rượu nếp, rượu trắng được chế biến từ ngô, sắn, mía dùng chủ yếu vào lúc có khách, giỗ tết,... Trong sinh hoạt ngày thường uống nước chè xanh, hoặc chè búp hoặc nước lọc.
2.1.4. Tổ chức xã hội và gia đình
2.1.4.1. Tổ chức theo huyết thống
Đây là tổ chức theo chiều dọc, theo thời gian. Những người cùng huyết thống gắn bó mật thiết với nhau tạo thành đơn vị cơ sở là gia đình và đơn vị cấu thành gia tộc. Gia đình theo chế độ phụ hệ mẫu quyền. Nhiều khi gia tộc đồng nhất với làng. Dấu vết hiện tượng làng là nơi của một dòng họ lưu lại ở hang loạt tên làng: làng Đặng xá, Đỗ xá, Ngô xá.....Sức mạnh gia tộc biểu hiện ở sự yêu thương nhau, trách nhiệm cưu mang.
2.1.4.2. Tổ chức theo địa bàn cư trú: xóm, làng
Đây là tổ chức theo hang ngang, theo không gian.Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành xóm, làng. Người Việt không thể thiếu quan hệ họ hàng nhưng cũng không thể thiếu quan hệ xóm làng.
2.1.4.3. Tổ chức theo nghề nghiệp, sở thích: phường, hội
Trong một làng phần lớn người dân làm nông nghiệp nhưng có những bộ phận làm nghề khác, họ liên kết chặt chẽ với nhau tạo thành phường, hội. Đó là tổ chức nhằm liên kết chặt chẽ những người cùng sở thích, thú vui. Phường hội gần nhau nhưng phường mang tính chuyên sâu hơn và giới hạn quy mô nhỏ.
2.1.4.4. Tổ chức theo truyền thống nam giới: giáp
Đây là hình thức tổ chức xuất hiện muộn xây dựng theo nguyên tắc trọng già - nguyên tắc truyền thống. Đứng đầu giáp là cai giáp, giúp việc cho cai giáp là bốn ông lềnh. Đặc điểm của giáp là chỉ có đàn ông tham gia, mang tính chất cha truyền con nối. Nội bộ trong giáp có 3 lớp tuối: ti ấu, đinh, lão. Vinh dự tối cao của hàng giáp là lão.
2.1.4.5 Tổ chức theo đơn vị hành chính: thôn và xã
Về mặt hành chính, làng được gọi là xã (đôi khi xã có nhiều làng), xóm được gọi là thôn (đôi khi xóm có nhiều thôn). Nông thôn Nam Bộ còn có ấp là xã thôn nơi mới khai khẩn. Xã phân biệt dân chính cư và dân ngụ cư. Dân chính cư được hưởng mọi quyền lợi. Dân chính cư gồm: chức sắc, chức dịch, lão, đinh, ti ấu.
2.1.5. Văn hoá phi vật thể.
2.1.5.1. Tôn giáo tín ngưỡng
Điểm chung nhất trong đời sống tâm linh của người Việt đó là : Đa tín nhưng không cuồng tín.
2.1.5.1.1. Tín ngưỡng
* Tín ngưỡng phồn thực
Nhu cầu thiết yếu nhất của cư dân nông nghiệp là sự phát triển con người, mặt khác là bội thu để duy trì và phát triển sự sống, sản xuất lúa để duy trì hạt giống, sản xuất con người để duy trì nòi giống. Hai hình thức đó có cùng bản chất là sự kết hợp hai cặp đối lập “đất – trời”, “mẹ – cha”. Với người hiểu biết, họ tìm thấy ở đó quy luật khái quát, triết lý âm dương nhưng với những người có trình độ hạn chế, họ tin vào một lực lượng siêu nhiên, sùng bái nó. Từ đó xuất hiện tín ngưỡng phồn thực – nảy nở hơn nhiều. Tín ngưỡng đó tồn tại khắp chiều dài lịch sử với 2 dạng biểu hiện: thờ bộ phận sinh dục nam nữ (sinh – thực – khí) và thờ hành vi giao phối.
* Tín ngưỡng sùng bái tự nhiên.
Người Việt sống bằng kinh tế lúa nước. Quan hệ với tự nhiên là cực kì lâu dài và bền chặt kết hợp với tâm thức đa thần dẫn đến hệ quả là trong quan hệ xã hội: lối sống thiên về tình cảm, trọng nữ, trọng tín ngưỡng, trọng nữ thần.
Trong các nữ thần, trước hết là bà trời, bà đất, bà nước. Đó là các hiện tượng tự nhiên thân thiết với cuộc sống nông nghiệp. Sau này, khi ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa, ta có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công, Hà Bá nhưng xét đến tận cùng thì đó vẫn là một dạng của trời đất nước. Ngoài ra, các hiện tượng tự nhiên như thời gian, không gian cũng được tôn thờ: thần không gian thì theo “ngũ hành nương”, thần thời gian thì theo địa chi nên gọi là “thập nhị hành khiển”. Mười hai nữ thần này còn có trách nhiệm coi sóc việc sinh nở.
Trong tín ngưỡng này, người Việt còn thờ cả động vật và thực vật. Người Việt có câu: “ Nhất diểu, nhì ngư, tam xà, tứ tượng”.
* Tín ngưỡng sùng bái con người
Người Việt cho rằng có 3 hồn, nam 7 vía, nữ 9 vía. Chết là cơ thể từ trạng thái động chuyển thành trạng thái tĩnh. Như vậy là hồn đi từ cõi dương sang cõi âm, chết là về với tổ tiên nhưng ông bà tổ tiên vẫn trở về phù hộ cho con cháu dẫn tới tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên.
Ngài các vị thần tại gia, người Việt còn có tín ngưỡng thờ thần linh chung của một thôn xã, như Thành Hoàng. Đó có thể là những người có công với làng xã hoặc cũng có thể là những người nghèo khó, cết đột tử tại làng. Tín ngưỡng này còn thể hiện ở việc “thờ tứ bất tử”.
Tục thờ mẫu ở Nam Bộ.
a. Nhận xét :
Người dân ở Nam Bộ vẫn có một tín ngưỡng thờ mẫu tiềm ẩn trong tâm thức. Bởi ở nơi này, họ vẫn là những người dân trồng lúa nước. Người ta đén với tín ngưỡng này với ước vọng cầu cho mùa màng tươi tốt, con người được no đủ, cho quốc thái dân an.
Hành trình về phương Nam, người Việt cộng cư hòa đồng thân ái với người Khme, người Chăm, người Hoa: Sự giao lưu văn hóa đó diễn ra, ngay cả ở tín ngưỡng thờ Mẫu. Người Việt mượn thần thoại về bà mẹ của người Chăm, mượn thần thoại về bà mẹ để tạo ra nhân vật được phụng thờ. Quá trình Việt hóa diễn ra không đồng đều nên có bà khó nhận ra dấu vết văn hóa của dân tộc vay mượn, có bà lại dễ nhận ra
Các lễ hội dân gian được sinh thành từ bàn thờ bà đã thay đổi. Lễ hội lớn nhất là lễ vía Bà núi Sam, trước đâylà ngày cúng Phật, là lễ Nguyên Tiêu của người Việt, nay đã có sự đan xen với lễ Kỳ Yên.
b. Phân biệt tín ngưỡng thờ Mẫu ở Bắc Bộ và Nam Bộ
- Giống nhau:
+ Vẫn là tục thờ mẹ của người Việt.
+ Đằng sau tín ngưỡng ấy là khát vọng của người dân: Cầu mong ở bà mẹ đất một mùa màng no đủ tốt tươi.
- Khác nhau
Do các lớp văn hóa lắng đọng trong lễ hội chưa nhiều, nên các nghi thức trong lễ hội ở Nam bộ có phần đơn giản hơn. Hệ thống đường dây liên kết giữa nghi lễ và trò diễn không chặt chẽ, không có hiện tượng hèm như ta thường gặp trong các lễ hội ở Bắc bộ.
Hiện tượng hầu đồng, vẫn phổ biến trong các thờ Mẫu ở Bắc Bộ, ít gặp ở Nam bộ và thay vào đó là hát bóng rỗi.
c. Một số Mẫu và nơi thờ Mẫu tiêu biểu
* Bà Chúa Xứ ở miếu Bà Chúa Xứ núi Sam
Tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ mẹ Đất, nhưng khi sống cùng với người Khme, người Kinh chấp nhận việc thờ phụng nữ thần Đất của người Khme - một nữ thần có mái tóc dài, từng đuổi lũ ma quỷ che chở cho đức Phật khi người ngồi tu ở gốc cây Bồ Đề. Tuy nhiên, người Việt lại chỉ tiếp nhận một trong hai nữ thần cặp đôi của người Khơme (tức là bà Đen- nữ thần coi giữ một vùng). Mặt khác, trong việc tiếp thu này, dù ý thức là nữ thần coi giữ một vùng nhưng người Việt cũng không tiếp thu tín ngưỡng Arak của người Khme vì người Việt đã có thần nông nghiệp còn trong tín ngưỡng đó, vị thần này là thổ thần kiêm thần nông nghiệp.
* Sự phồn thịnh của tín ngưỡng thờ bà Chúa Xứ thể hiện ở việc miếu thờ bà xuất hiện ở nhiều nơi nhưng linh thiêng và tiêu biểu hơn cả là Miếu bà chúa Xứ núi Sam. Hiện nay, miếu nằm ở xã Vĩnh tế, huyện Châu Đốc, tỉnh An Giang, ngay chân núi Sam.
* Truyền thuyết về sự xuất hiện của bà: Có nhiều truyền thuyết khác nhau về sự xuất hiện của miếu bà chúa Xứ ở núi Sam
Ví dụ: Có truyền thuyết kể rằng: Tượng bà ngày xưa trên đỉnh núi Sam. Vào những năm của thế kỉ 19, giặc Xiêm hay sang quấy nhiễu, gặp tượng Bà, bọn chúng cậy khiêng xuống núi. Nhưng đi được một đoạn, tượng bà nặng không thể nào khiêng được. Một hôm dân làng gặp tượng bà giữa đường bèn họp nhau lại để khiêng về, lập miếu thờ. Kỳ lạ, mặc dù dân làng huy động khá nhiều thanh niên lực lưỡng vẫn không thể nào khiêng được. Bỗng một người phụ nữ lên đồng, tự xưng là bà Chúa Xứ, báo phải có 10 người con gái đồng trinh tắm rửa sạch sẽ mới mang được tượng bà xuống núi. Dân làng y lời, khiêng đến gần chân núi, tượng bà nặng trịch không khiêng được nữa. Dân làng cho rằng Bà đã chọn nơi này an ngự thế là miếu của bà được dựng tại đó.
Một truyền thuyết khác kể rằng: Vào khoảng những năm 20 của thế kỉ 19, bỗng có một người con gái trong làng Vĩnh Tế lên đồng tự xưng là bà Chúa Xứ núi Sam về cứu dân độ thế, hiện tại tượng bà trên đỉnh núi Sam, dân làng phải đem về thờ phụng. Dân làng lên núi Sam quả có tượng bà bèn mang dây đòn để khiêng nhưng không được. Giữa lúc đó, người con gái bữa nọ lại lên đồng cho biết: “dân làng chỉ cần 9 người con gái đồng trinh để khiêng”. Quả y lời, 9 cô gái đồng trinh đã khiêng được tượng bà từ trên đỉnh núi xuống. Nhưng đi đến triền núi, tượng nặng dần lên, đứt dây gánh. Người làng hiểu bà muốn ngự tại đây. Ngôi miếu thờ bà được dựng lên từ bấy đến giờ.
* Ngày Vía Bà : 23, 24, 25, 26, 27-T4 âm lịch.Vía chính vào ngày 25.
* Trình tự lễ hội có các nghi lễ : Lễ tắm bà (lau bụi bặm trên tượng bà và thay áo mão cho bà), lễ thỉnh sẵc Thoại Ngọc Hầu (lăng Thoại Ngọc Hầu nằm đối diện với miếu bà), lễ túc yết, lễ xây chầu, lễ chánh tế
* Cùng với lễ hội, một số nghi lễ và trò diễn dân gian đã được đan cài vào tín ngưỡng thờ Bà. Trong đó không thể không nhắc tới tục xin xăm từng ở miếu Bà trước đây. Quanh năm người ta đến miếu viếng Bà rồi xin xăm.
Mặt khác, nơi miếu Bà trước đây còn có lệ vay tiền Bà. Tiền Bà cũng là loại tiền dương , do nhà nước phát hành, nhưng có thêm dấu son của Hội quý tế. Những người đến viếng Bà, thường chỉ vay một ít để lấy may. Số tiền trả không có giới hạn, tùy tâm tín chủ.
Lễ hội trước đay còn có tục xin khăn bùa để mang trong người, tránh tà maquấy phá, để con người luôn khỏe mạnh.
* Bà Chúa Ngọc
Tín ngưỡng thờ Bà Chúa Ngọc có nguồn gốc từ tín ngưỡng thờ Thiên Yana của người Chăm. Đó là thánh mẫu Pô Inơ Nâgr tạo lập ra nước Chiêm Thành đã được hóa thân.
Theo truyền thuyết, Bà được giáng sinh dưới dạng một em bé gái độ mười tuổi, tay cầm trái dưa dưới ánh trăng, trong rẫy dưa nhà một vợ chồng già không có con. Một hôm, trong cảnh rừng ngập lụt, nàng chợt nhớ cảnh bồng lai, lấy hoa lựa đá, đắp hình mấy ngọn núi chơi. Ông già giận lắm, mắng nàng, nàng buồn bã, thấy mảnh gỗ kỳ nam ở đâu trôi tới, nàng ẩn thân vào đó, mặc cho sóng biển đưa đi, ở Bắc quốc, hoàng tử bắc quốc chưa có vợ, vớt mảnh kỳ nam, gặp nàng. Hai người thành vợ chồng, sinh được hai người con trai. Rồi nàng lại cùng hai người con, ẩn vào cây kỳ nam theo đương biển về phía nam. Tới nơi, cha me nàng đã qua đời. Nàng ở lại, dạy dân khai khẩn ruộng vườn, phép tắc nghề nghiệp nuôi nhau. Rồi bà theo chim loan bay lên cõi tiên. Chồng bà từ bắc quốc sang tìm, bị sóng gió làm chết. Từ đó, bà thường hiển linh.
Khi vào Nam bộ, người Việt mang theo tín ngưỡng thờ bà chúa Ngọc. Sự giao lưu văn hóa được diễn ra giữa một bên là tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt với một bên là tín ngưỡng thờ người tạo lập nước Chiêm Thành, cả hai hội tụ trong hình tượng bà chúa Ngọc mà triều Nguyễn phong là Thượng Đẳng Thần.
Bà được thờ phụng tại điện Hòn Chén (Huế), Tháp Bà (Nha Trang-Khánh Hòa).
* Bà Thiên Hậu.
Bà là vị thánh mẫu mà người Việt tiếp thu của người Hoa.
Theo truyền thuyết, đó là một người con gái làm nghề dệt vải, nhưng có khả năng giao cảm với thần linh, biết được mọi tai ương sẽ đến. Bà nhập thần cứu được anh mình mà thân xác vẫn ngồi tại chỗ, biết hô phong hoán vũ, phù trợ cho những người đi biển.
Bà được thờ tại nhiều nơi ở Nam Bộ, không có lễ hội dân gian mà người dân tưởng niệm chỉ cần cúng bà vào ngày 23-3 âm lịch hàng năm
2.1.5.1.2. Tôn giáo
Người Việt có tôn giáo ở cấp độ dân tộc: phật giáo, ki tô giáo, Đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo
* Đạo Cao Đài
Cao Đài là một tôn giáo độc thần, tương đối mới, chính thức xuất hiện năm 1925 ở vùng nam Bộ. Tên gọi đầy đủ: “Cao Đài Đại Đạo Tam Kì Phổ Độ”. Thực chất, Cao Đài là sự hỗn dung tư tưởng trên cơ sở đề cao Đạo Giáo: dùng hệ thống tổ chức của Thiên Chúa, phẩm chất đạo đức của Phật và lấy tư tưởng của Đạo. Do đó , không có cầu cơ sẽ không tồn tại đạo Cao Đài. Thừa nhận, con người gồm 2 phần : xác và hồn. Xác sẽ có lúc mất đi, còn hồn thì tồn tại vĩnh viễn. Khi chết, linh hồn sẽ lên gặp Bạch Ngọc Kinh. Tín đồ thi hành những giáo luật như: không sát sinh, phải đọc kinh, ăn chay, thờ cúng tổ tiên với mục tiêu thoát khỏi luân hồi.
* Đạo Hoà Hảo
Đạo Hoà Hảo còn gọi là Phật giáo Hoà Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ Tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia.
Giáo lý của Đạo Hoà Hảo thể hiện trong bài sấm kệ do Huỳnh Phú Sổ biên soạn gồm 6 tập: 1. Sấm khuyên người đi tu luyện; 2. Kệ của người Khùng; 3. Sấm giảng; 4. Giác mê tâm kệ; 5. Khuyến thiện; 6. Những điều sơ học cần thiết của kẻ tu hành.
Có thể thấy, giáo ý Hoà Hảo là sự tiếp thu và nâng cao tư tưởng Bửu Sơn Kì Hương, gồm phần “Học Phật’ và phần “Tu nhân”. Trong đó, tinh thần chính của Học Phật là khuyên dặn tín đồ ăn ngay ở hiền. Phần Tu nhân nghĩa là “tứ ân hiếu nghĩa”, bao gồm Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân đồng bào nhân loại, Ân Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng).
Đạo này chủ trương tu tại gia hơn là đi lễ chùa. Nghi thức cúng lễ khiêm tốn, không ăn uống hội hè. Đạo Hoà Hảo không có tu sỹ, khôngcó tổ chức giáo hội mà chỉ có một số chức sắc lo việc đạo và cả việc đời; Không có nơi thờ công cộng, trung tâm là tổ đình cũng chỉ mang tính gia tộc; Thờ phật, thờ tổ tiên và những anh hùng tiên liệt của đất nước; Không thờ các thần thánh nếu không có nguyên nhân.
Do ảnh hưởng và tiếp thu nhiều luồng văn hóa khác nhau, trên mảnh đất người Kinh sống còn tồn tại nhiều tôn giáo: Phật giáo, Đạo giáo, Kitô giáo, Hệ tưởng Nho giáo
Đạo phật :............................
Đạo Ki tô :’.............................
2.1.5.2. Lễ tết
Nguyên nghĩa của Tết chính là “tiết”. Văn hoá Việt thuộc văn minh nông nghiệp luá nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đó “phân chia” thời gian trong năm thành 24 tiết khác nhau ( và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”).
Dân tộc Việt có rất nhiều ngày Tết cổ truyền với ý nghĩa sâu sắc diễn ra vào các thời điểm khác nhau trong năm: Tết Nguyên Đán, Thượng Nguyên, Hàn Thực, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Nguyên, Trung Thu, Táo Quân....
Xin được giới thiệu một số tết :
* Tết Nguyên Đán
a. Tên gọi :
Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc từ chữ Hán. “Nguyên” nghĩa là sự khởi đầu, sơ khai.“Đán” là buổi sáng sớm. Vậy, Nguyên Đán là :“ những buổi rạng đông của sự khởi đầu”. Đối với dân tộc Việt-cư dân nông nghiệp, đây là tiết quan trọng nhất vì nó đứng đầu chuỗi nhịp điệu các thời kỳ, là thời điểm khởi đầu của năm, tháng, mùa.
Tết Nguyên Đán còn gọi là tết Cả, tết Ta hay tết Âm Lịch.
b. Thời điểm diễn ra và ý nghĩa :
Tết Nguyên Đán chính thức diễn ra từ ngày mùng 1 tháng giêng âm lịch, kéo dài 3 - 4 ngày.
Theo phong tục cổ truyền, tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn tại mỗi nhà :
* Thứ nhất: Cuộc gặp gỡ của những gia thần, đó là tiên sư hay nghề sư - vị tổ đầu tiên dạy nghề mà gia đình mình đang làm ; gặp Thổ Công, Táo Quân nơi mình đang ở.
* Thứ hai: Cuộc gặp gỡ giữa tổ tiên, ông bà, những người đã khuất. Người Kinh tin rằng, linh hồn của những người đó khuất cũng về với con cháu của họ vào dịp tết.
* Thứ ba: Cuộc đoàn tụ của những người trong nhà. Như một thói quen thiêng liêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu, làm gì, trong hoàn cảnh nào, hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về quây quần với những người thân trong gia đình.
Như vậy, Tết là dịp để người Việt cảm tạ trời đất, tưởng nhớ về cội nguồn, ông bà tổ tiên, sum họp gia đình vì vậy mà thành ngữ “về quê ăn tết” đã trở thành thành ngữ chỉ các cuộc hành hương tìm về cội nguồn.
Ngày tết đem lại một sự khởi đầu mới, rũ bỏ những gì chưa tốt đẹp của năm qua nên mọi người đều cố gắng vui vẻ, độ lượng với nhau, bỏ qua hiềm khích. Lòng người ai cũng tràn đầy những hoài bão về hạnh phúc và thịnh vượng cho năm mới. Vì thế, buổi sáng đầu tiên của năm mới là buổi sáng linh thiêng nhất. Tất cả các cử chỉ ta làm trong những giờ đầu tiên này đều có hiệu lực của một đạo bùa quý báu. Nó là điềm báo trước các sự kiện diễn ra trong năm.
c. Các khoảng thời gian của tết Nguyên Đán: Mỗi khoảng ứng với những sự chuẩn bị, nghi lễ và hình thức thể hiện khác nhau. Có 3 khoảng: Tất niên, Giao thừa, Tân niên.
*Khoảng 1 : Tất niên : Gồm : Hoàn tất mọi công việc và cúng bái
+ Bước vào bất cứ gia đình nào trong thời điểm cuối năm, ta đều thấy không khí nhộn nhịp, khẩn trương từ việc hoàn tất mọi công việc của năm cũ đến mua sắm, may mặc, trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân về,...để đón tết.
+ Cúng bái: Gồm: Sắp dọn ban thờ, Cúng lễ
- Sắp dọn bàn thờ: Gia đình của người Việt bao giờ cũng có bàn thờ tổ tiên, đó là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Tùy theo từng nhà, cách sắp đặt bàn thờ là khác nhau.
Một số lễ vật thường có trong cúng bái ngày tết:
+ Phía trước bát hương thường để sẵn bát nước sạch với ý nghĩa để các cụ rửa tay về đón tết cùng con cháu.
+ Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dân linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.
+ Mâm ngũ quả: Ngày tết, dù thành thị hay thôn quê, giàu sang hay nghèo khó, trên bàn thờ tổ tiên, hầu như nhà nào cũng trưng một mâm ngũ quả, và cố thể hiện sao cho vừa đẹp mắt, vừa hàm ý những điều ước nguyện của gia chủ.
Gọi là ngũ quả nhưng thật ra chẳng ai rõ quy định những loại quả gì mà tùy từng địa phương với đặc trưng về khí hậu, sản vật, quan niệm riêng,...mà người ta chọn loại quả phù hợp. Tuy nhiên dù loịa quả gì, mâm ngũ quả vẫn mang một ý nghĩa chung: dâng cúng tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo và ước mong những điều tốt lành vào năm mới. Mỗi loại quả đều có mùi vị, màu sắc và mang những ý nghĩa nhất định.
Ngũ vì: Vũ trụ được tạo nên từ 5 nguyên tố căn bản: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Do đó số 5 là biểu hiện chung của sự sống. Và tên gọi “ngũ quả” tự nó đã biểu trưng cho một tập thành đầy đủ các loại quả được chọn làm lễ vật dâng cúng.
Quả vì: Nó là biểu tượng của sự sung túc. Vì quả đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho mọi nguồn gốc, mọi sự khởi nguyên. Chứa nhiều hạt biểu thị cho sự phồn thực, sinh sôi, khao khát sự bất tử – hiểu theo nghĩa là sự nối truyền dòng giống miên viễn. Như vậy, quả bao gồm cả ý nghĩa biểu trưng vượt lên khỏi nhịp điệu sinh tồn của vạn vật: Đó là sự xen kẽ luân hồi giữ sự sống và cái chết, giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và cuộc sống dương thế...
Nguyên thủy, mâm ngũ quả gồm 5 loại trái là mận, hạnh, dào, táo, lý (còn gọi là điều). Đó là những loại trái nhất định mà người xưa đã chọn, vì theo Chiêm thư, nó có đặc tính cảm ứng và trợ giúp cho ngũ cốc, tức 5 thứ hạt được dùng làm lương thực chính (gạo, nếp,lúa mì, mè đậu). 5 thứ ấy mà sai quả thì ngũ cốc sẽ được mùa và ngược lại. Do đó, mâm ngũ quả trước hết mang chức năng thông tin, phản ánh sát thực tình hình của thời vụ sắp tới, cho nên nó mang ý nghĩa tín hiệu của hạnh phúc, ấm no.
Do trái cây ngày càng nhiều, loại nào cũng ngon, bổ nên để thể hiện lòng hiếu thảo với tổ tiên cũng như để thể hiện tính thẩm mỹ, số lượng quả trên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn. Tuy nhiên, người ta vẫn gọi là mâm ngũ quả dù cho quả có nhiều hơn hay không bày trên mâm nữa. Bởi đó là một sản phẩm văn hóa đã được xác lập trong một quá trình lịch sử lâu dài, được khuôn đúc theo quan niệm về “ bộ ngũ hoàn hảo”.
- Lễ cúng: Gồm: Cúng Táo quân và cúng tất niên
+ Cúng Táo quân
Không khí tết nhộn nhịp bắt đầu kể từ ngày tiễn Táo quân về chầu trời vào ngày 23 tháng chạp. Theo tục cổ truyền thì Táo quân gồm 2 ông và một bà tượng trưng cho 3 cỗ đầu rau hay 3 chiếc chân kiềng ở nhà bếp. Vào ngày này, Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo với thượng đế về mọi việc lớn nhỏ trong gia đình của gia chủ. Đây là vị thần, quanh năm ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua bếp phù trợ cho gia đình mình gặp nhiều may mắn trong năm mới, Người ta thường làm lễ đưa tiễn ông Táo rất trọng thể. Ngoài những lễ vật truyền thống để cúng như quần áo, cá chép với ngụ ý “ cá chép hóa rồng” đưa ông Táo lên chầu trời. Theo tục xưa, riêng những nhà có trẻ nhỏ, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc ( phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy), để nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng cho đứa trẻ lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy.
+ Cúng Tất niên
Lúc đầu được hiểu như sự hoàn tất công việc trong năm, tức cúng các tổ nghề đã phù hộ cho công việc làm ăn, nhưng vì không phải thợ nào cũng có tổ nghề rõ ràng nên dần dà, mọi người đều cúng. Lễ cúng này thường diễn ra vào từ 23 đến 29 hoặc 30 Tết.
* Khoảng 2: Giao Thừa
Cúng Giao Thừa (Trừ tịch): Theo tục lệ cúng giao thừa được tổ chức nhằm đón các thiên binh. Lúc họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận trong nhà nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chinh mỗi nhà. Mâm cơm thể hiện lòng thành kính, tiễn đưa người nhà trời đó đó cai quản mình năm cũ và đón người mới tới làm nhiệm vụ cai quản hạ giới năm tới.
Lẽ trời đất có khởi thủy thì phải có tận cùng, một năm có bắt đầu ắt phải có kết thúc. Bắt đầu vào lúc giao thừa và cũng kết thúc vào lúc giao thừa. Giao thừa là cũ giao lại, mới đón lấy. Trừ tịch thì trừ là bỏ đi , bớt đi; tịch là đêm, tức là bỏ hết đi những gì xấu của năm cũ để đón lấy những thứ tốt đẹp cho năm mới. Lễ trừ tịch còn gọi là lễ “khu trừ ma quỷ”
* Khoảng 3: Tân niên:
Mọi việc xảy ra vào những giờ phút đầu của năm mới đối với người Việt có ý nghĩa như một đạo bùa chú. Vì vậy, người ta thường có những tục như xông đất, lì xì, hái lộc đầu xuân, đi chùa, khai bút, không quét nhà...để mong cầu một năm mới tốt lành sẽ đến.
Ví dụ như tục xông đất: Người Việt quan niệm, nếu ngày mồng 1 tết, mọi việc xảy ra suôn sẻ may mắn thì cả năm sẽ gặp tốt lành, người khách đến xông nhà đầu tiên trong năm vì thế cũng rất quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, người ta thường tìm những người trong họ hàng hoặc láng giềng cá tính vui vẻ, linh hoạt, thành công, có tuổi phù hợp để nhờ xông nhà .
Chú ý: Tại sao gọi là ăn tết ?
Thành ngữ Việt Nam có câu“ Đói giỗ cha no ba ngày tết”. Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay giật, xoay sở để có đủ ăn trong ba ngày tết. Hơn thế, dù có đói khổ quanh năm thì đến tết mọi người, nhất là trẻ em, được ăn uống no nê, không những ăn ngon mà còn rất nhiều. Vì vậy mà người ta gọi đó là “ăn tết”. Mỗi món ăn trong ngày tết đều chứa đựng những ước mơ của con người về một cuộc sống an lành.
* Tết Thượng Nguyên
Tết Thượng Nguyên còn gọi là tết nguyên tiêu, diễn ra vào đúng ngày rằm tháng giêng – ngày trăng rằm đầu tiên của năm. Ngày rằm tháng giêng cũng là ngày Vía phật Tổ vì thế mà thành ngữ có câu “lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng”.
Tết này phần lớn được tổ chức tại chùa. Sau khi đi chùa, mọi người họp mặt, cúng gia tiên và ăn cỗ
* Tết Hàn Thực
Hàn Thực nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này vào ngày 3/3 âm lịch. Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công Tử Trùng Nhĩ, về sau là vua Tấn Văn Công, khi gặp cảnh hoạn nạn, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi của mình cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trùng Nhĩ lại được trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đó công nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi. Tử Thôi cũng không óan hận, và nghĩ việc giúp đỡ Trùng Nhĩ là một nghĩa vụ của kẻ bầy tôi. Và Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Điều. Lúc vua nhớ ra cho người tới mời mà không được, liền sai đốt rừng để Tử Thôi phải đi ra. Tuy nhiên Tử Thôi không ra, và hai mẹ con bị chết. Hôm ấy đúng ngày 5 tháng ba. Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi, và đổi tên núi đó là Giới Sơn. Người quanh vùng thương Tử Thôi nên hằng năm từ ngày mồng 3 đến mồng 5 tháng ba thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đó nấu sẵn.
Từ thời Nhà Lý, người Việt đó tiếp nhận Tết này nhưng chỉ tổ chức vào một ngày 3/3 âm lịch mà thôi, không kiêng đốt lửa và thường làm bánh trôi, bánh chay, thay cho đồ nguội, mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ không nhiều người biết chuyện Giới Tử Thôi.
* Tết Đoan Ngọ
Sự tích Khuất Nguyên
Khuất Nguyên làm quan Tả đồ nước Sở, dưới triều vua Hoài Vương đời Thất quốc (307 - 246 trước CN). Ông là người chính trực nên bị bọn nịnh thần ghen ghét sàm tấu. Những ý kiến ông tâu trình đều muốn hưng thịnh cho đất nước Trung Hoa hồi bấy giờ lại bị vua Sở bác bỏ. Có lần Sở Hoài Vương sang Tần, ông can ngăn không được đến nỗi Hoài Vương bị chết ở đất Tần.
Tương Vương kế nghiệp cũng bị bọn gian thần thao túng, bác bỏ những ý trung chính của ông, lại còn bắt ông đi đày. Trước những nhiễu nhương đáng buồn đó, Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sa rồi buộc đá vào người trầm mình tự tử tại sông Mịch La vào ngày 5/5 Âm lịch.
Tương Vương nghe tin mới hối hận, lệnh cho dân làm cỗ cúng và đem cỗ sẻ xuống sông để ông hưởng. Đêm đến ông báo mộng cho vua, rằng nếu ném cỗ xuống sông thì phải bọc lá bên ngoài và buộc bằng chỉ ngũ sắc, cá tôm mới không ăn được. Từ lời báo mộng đó, nhà vua ban lệnh cho dân. Do vậy mà hàng năm vào ngày 5/5 có lệ cúng Khuất Nguyên để tưởng nhớ vị đại thần trung chính, lại gói cỗ bằng lá, buộc chỉ ngũ sắc thả xuống sông cho ông hưởng.
Dưới ảnh hưởng của Văn hóa Trung Hoa, Tết Đoan Ngọ vào nước ta, nhưng nó mang một ý nghĩa khác: Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương, Tết Nửa Năm. Đoan là mở đầu; Ngọ là giữa trưa, là lúc khí dương đang thịnh... Cung Ngọ thuộc dương và tháng 5 cũng là tháng Ngọ, do vậy tháng 5 Âm lịch là tháng khí dương tràn ngập.
Người ta còn gọi Tết Đoan Ngọ là Tết Trùng Ngũ hay Đoan Ngũ (ngày 5/5). Do vậy mà các ngày mồng 1, 2, 3, 4 tháng 5 Âm lịch được gọi Đoan nhất, Đoan nhị, Đoan tam, Đoan tứ.
Tết Đoan Ngọ đó trở thành Tết truyền thống. Nhà nhà, làng làng đều sửa lễ cúng ông bà Tổ Tiên, Thần Thánh, các vị Tổ Sư của nghề. Đặc biệt đây là Tết chú ý đến việc bảo vệ sức khỏe, ngăn ngừa sâu bọ (vi trùng) làm giảm sức khỏe của con người. Đó là việc giết sâu bọ, bằng cách ăn rượu nếp làm cho sâu bọ trong người bị say, ăn các trái cây như mận như xoài... là bồi thêm đòn cho sâu bọ chết. Người ta còn mài thần sa, chu sa cho trẻ uống để chống sự phản ứng trong cơ thể.
2.1.5.3. Giới thiệu một số lễ hội
* Lễ hội Đền Hùng
Lễ hội Đền Hùng còn gọi là Giỗ tổ Hùng Vương là một lễ hội lớn mang tầm vóc quốc gia ở Việt Nam diễn ra vào ngày 10 – 3 âm lịch. Lễ hội được tổ chức nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn công lao lập nước của các vua Hùng – những vị vua đầu tiên của dân tộc.
Phần lễ của lễ hội diễn ra 2 lễ:
- Lễ rước kiệu vua: Đám rước kiệu với màu sắc sặc sỡ của bạt ngàn cờ hoa, lọng kiệu, trang phục truyền thống xuất phát từ chân núi rồi lần lượt qua các đền để tới đền Thượng. Sau đó tiếp tục tới đỉnh núi Thiêng.
- Lễ dang hương: Người hành hương tới đền Hùng chủ yếu vì nhu cầu của đời sống tâm linh. Mỗi người đều thắp lên vài nén hương khi tới đất Tổ để nhờ làn khói nói hộ những điều tâm nguyện của mình với tổ tiên. Trong tâm hồn người Việt, mỗi nắm đất, gốc cây nơi đây đều linh thiêng và chẳng có gì khó hiểu khi nhìn thấy những gốc cây, hốc đá cắm đỏ những chân hương.
Phần hội có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc : hát xoan, đấu vật, thi kéo co hay thi bơi trải ở ngã ba sông Bạch Hạc – nơi vua Hùng luyện chiến cho các đờan thuỷ binh.
Từ năm 2007, giỗ tổ Hùng Vương trở thành ngày quốc lễ. Lễ hội đền Hùng những năm lẻ sẽ do tỉnh Phú Thọ đứng ra tổ chức còn những năm chẵn sẽ có quy mô ở các cấp lớn hơn.
* Lễ hội Chùa Hương
Hàng năm mỗi độ xuân về, hoa mơ nở trắng núi rừng Hương Sơn, hàng triệu phật tử cùng tao nhân mặc khách bốn phương nô nức trẩy hội chùa Hương. Hành trình về miền đất Phật – nơi Bồ Tát Quan Thế Âm ứng hiện tu hành, để dâng lên Người một lời cầu nguyện, một nén tâm hương, hoặc thả hồn bay bổng hoà quyện với thiên nhiên ở một vùng rừng núi còn in dấu Phật. Hội chùa Hương diễn ra trên địa bàn xã Hương Sơn, trong địa phận huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây. Xã gồm sáu thôn: Tiên Mai, Phú Yên, Hội Xá, Đục Khê, Yên Vĩ và Hạ Đoài. Đây là lễ hội kéo dài nhất nước ta: từ 6 tháng giêng đến hạ tuần tháng 3 âm lịch. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng giêng đến 18-2 âm lịch. Tương truyền, 18-2 là ngày khánh đản Đức Quan Thế Âm – tức là ngày sinh của bà chúa Ba ở chùa Hương.
Phần lễ của lễ hội là toàn thể hệ thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam: có sự sùng bái tự nhiên, có Đạo, Có Phật và có cả Nho. Những tính chất tôn giáo có phần bị tình yêu thiên nhiên, tình yêu đôi lứa và tình cảm cộng đồng ... tràn đầy chất thẩm mỹ, vừa thanh cao mà cũng rất trần tục lấn đi.
* Lễ hội Chử Đồng Tử
Truyện về Chử Đồng Tử được lưu hành rộng rãi trong dân gian, trong tâm thức nhân dân, Chử Đồng Tử được coi là một trong “tứ bất tử”. Đền thờ lập ở nơi vợ chồng Chử Đồng Tử và Tiên Dung hóa thành thần bay lên trời gọi là Dạ Trạch Hóa Từ thuộc huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên hiện nay.Lễ hội được diễn ra trong 3 ngày(10->13-2 âm lịch) để tưởng nhớ những con người đã dũng cảm vượt qua trở ngại ràng buộc của tập tục cũ để đến với tình yêu và hơn hết đó là ân nhân của làng quê, giúp dân làm ăn, chữa bệnh.
2.1.5.4. Chữ viết
Trong lịch sử, người Kinh đó sử dụng ít nhất 3 loại chữ trong văn bản: Đú là chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc ngữ.
Trong quá trình phát triển, tiếng Việt được chọn làm ngôn ngữ chung của dân tộc. Chữ viết tiếng Việt ngày nay có xuất xứ từ thế kỉ XVII khi một nhóm các nhà truyền giáo Châu Âu mà đại diện là giáo sỹ Alexandre de Rhdes đó giới thiệu mẫu chữ dựa trên mẫu tự La tinh. Sau đó, chữ quốc ngữ dần được hoàn chỉnh và trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam từ đầu thế kỉ XX.
2.1.5.5. Văn học nghệ thuật
Vốn văn học cổ của người Kinh khá lớn: có văn học truyền miệng (truyện cổ, ca dao, tục ngữ), có văn học viết bằng chữ (những áng thơ, văn, bộ sách, bài hịch).
Nghệ thuật cũng phát triển sớm và đạt trình độ cao về nhiều mặt : ca hát, âm nhạc, hội họa, múa, diễn xướng. Hội làng hàng năm là dịp sinh hoạt văn nghệ rôm rả, hấp dẫn.
Ví dụ:
* Chèo là một loại hình sân khấu dân gian Việt Nam, phát sinh và phát triển ở đồng bằng Bắc Bộ. Loại hình sân khấu này mang đậm tính dân tộc và là đại diện tiêu biểu cho sân khấu truyền thống Việt Nam.
Không giống như tuồng chỉ ca tụng hành động anh hùng của giới quyền quý, chèo miêu tả cuộc sống bình dị của người dân nông thôn, thể hiện khát vọng sống thanh bình giữa một xã hội đầy bất công. Nội dung của chèo lấy từ những chuyện cổ tích, truyện Nôm, được nâng lên đến mức cao bằng nghệ thuật sân khấu mang tính hiện thực và tư tưởng sâu sắc.
Một số tác phẩm nổi tiếng: Thầy mù, Đồ điếc, Hương câm, Quan Âm Thị Kính.
* Rối nước là loại hình nghệ thuật sân khấu dân gian truyền thống lâu đời của Việt Nam. Theo các nhà nghiên cứu, nó ra đời và tồn tại song song với nền văn minh lúa nước từ thời các Vua Hùng và miền đồng bằng sông Hồng là cái nôi sinh ra hình thức nghệ thuật này.
Nghệ thuật rối nước có những đặc điểm khác với múa rối thông thường: Dùng mặt nước làm sân khấu (gọi là nhà rối hay thuỷ đình), phía sau có phông che, xung quanh có trang trí cờ quạt voi lọng ...Trên “sân khấu” này là những con rối (được làm bằng gỗ gọi là chú Tễu), biểu diễn nhờ sự điều khiển của những người phía sau phông, qua hệ thống sào, dây.... Biểu diễn rối nước khụng thể thiếu tiếng trống, tiếng sáo phụ trợ.
2.1.6. Phong tục tập quán
2.1.6.1. Hôn nhân
Hôn nhân truyền thống với người Việt không phải chỉ là việc của hai người lấy nhau, mà còn là việc của hai họ dựng vợ gả chồng cho con cái. Khi nói tới hai họ, ta nghĩ tới xuất phát điểm là quyền lợi của tập thể, gia tộc; quyền lợi của làng xã; sau đó mới tới nhu cầu riêng tư.
Trong xã hội, cha mẹ đóng vai trò quan trọng quyết định việc hôn nhân của con cái. Những gia đình nề nếp, gia giáo thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, gia đình hai bên phải môn đăng hậu đối. Các cụ thường kén con dâu theo tiêu chuẩn: “công – dung – ngôn – hạnh”.
Hầu hết các đôi thanh niên nam nữ muốn kết hôn phải so tuổi thì đôi vợ chồng sẽ sống hòa hợp, ăn lên làm ra, nếu không thì sẽ không tốt cho tương lai.
Các bước trong hôn nhân
Thời trước, kết hôn có đủ 6 lễ:
1. Nạp thái (kén chọn): Đưa lễ để tỏ ý kén chọn (tục gọi là chạm mặt hay giạm vợ).
2. Vấn danh (hỏi vợ)
3. Nạp cát (Bói được tốt) : Báo cho nhà gái biết
4. Thỉnh kỳ : Định ngày làm lễ cưới, xin hứa trước với nhà gái.
5. Nạp tệ : Đưa lễ cưới.
6. Thân nghinh : Đón dâu
Ngoài ra còn có lễ:
+ Hợp cẩn: Cô dâu chú rể cùng chung chén rượu và uống cùng một mâm.
+ Lại mặt: Nhà trai mang xôi, lợn sang lễ từ đường nhà gái.
Ngày nay, 6 lễ trên giảm xuống còn 3 lễ:
1. Chạm mặt
2. Ăn hỏi
3. Cưới
Một số tục lệ cần lưu ý:
1. Trong lễ xin dâu, cô dâu phải bước qua một lò than hang để tránh những vía dữ.
2. Một số nơi có tục chăng dây, cụ đi đầu đoàn cho bọn trẻ mấy đồng để chúng gỡ dây, tránh chuyện “giữa đường đứt gánh”.
3. Lúc cô dâu về nhà, mẹ chồng cầm bình vôi lánh mặt đi chỗ khác (bình vôi là biểu hiện của tài sản, các cụ nội trợ rất kiêng không để cho bình vôi sứt miệng nên thường quệt thêm vôi lên miệng bình vì họ tin: Vôi càng dày của cải càng nhiều). Như vậy về mẹ chồng lánh sang nhà hàng xóm – về hình thức là nhường lại quyền hành cho con dâu nhưng lại cầm bình vôi – tức là vẫn nắm tài sản. Đồng nghĩa với việc vẫn nắm quyền hành trong nhà.
4. Trải chiếu cho vợ chồng cô dâu: Phải là người ăn lên làm ra, con đàn cháu đông. Nếu mẹ chồng có đủ diều kiện trên thì mẹ chồng có thể trải cho con.
2.6.2.1. Tang ma
Trong việc tang ma, người Việt luôn có hai thái cực : Vừa xót thương, vừa vui lòng đưa tiễn người đã khuất. Vui lòng vì theo triết lý âm dương – sống gửi thác về. Còn đau xót vì từ nay âm dương cách biệt.
Trình tự tang lễ
- Người Việt Nam coi tang lễ cha mẹ là quan trọng nhất. Khi cha mẹ hấp hối thì phải khiêng ra nhà giữa để tỏ rằng cha mẹ đã chết một cách quang vinh.
- Lúc này, phải đặt tên hiệu, tên thụy, còn gọi là tên cúng cơm, rồi thưa cho cha mẹ biết để sau này, mỗi khi cúng giỗ, nghe con cháu khấn tên thì cha mẹ về dự lễ.
- Sau đó lấy một miếng lụa trắng dài đặt lên mặt, có người nói là đặt lên ngực để hồn người chết nhập vào, rồi kết thành hình người, gọi là hồn bạch.
- Khi tắt thở rồi thì tang chủ (người chủ lễ, thường là con trai trưởng) lấy một miếng đũa để ngang hàm, dùng một miếng khăn hoặc miếng giấy phủ lên mặt để tránh tà ma.
- Xong, khiêng xác đặt xuống đất, rồi lại khiêng đặt lên giường, mong rằng người chết hấp thụ sinh khí của đát, may ra sống lại.
- Người con cầm cái áo của người chết mới thay, trèo lên mái nhà hú vía (lễ phục hồn, chiêu hồn) : Tỏ ý mong cha mẹ sống lại . Theo quan niệm của Đạo giáo thì phách (vía) là phần tinh thần của con người phải phụ thuộc vào xác mới tồn tại. Khi người chết thì tan đi, còn hồn là phần tinh thần thì vẫn tồn tại. Hú vía xong thì mang áo phủ lên xác.
- Dùng nước thơm tắm cho người chết (lễ mộc dục) , chải tóc, cắt móng, thay quần áo cho người chết. Các đồ dùng trong lễ mộc dục sau đó được chôn đi.
- Kế tiếp là lễ phạm hàm hay ngậm hàm. Bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền vào miệng người chết, gạo ăn để khỏi thành ma đói, tiền để đi đò hay qua cầu sang thế giớ bên kia. Từ lúc mặc quần áo cho người chết, con cái phải ăn mặc càng tiều tụy càng tốt, càng tỏ lòng hiếu thảo.
- Tiếp đến là lễ khâm liệm. Khâm liệm là dùng vải bọc xác trước khi đặt vào áo quan. Xác được chèn chặt, bọc kín và buộc thành một khối vuông vức.
- Lúc đặt xác vào áo quan ( lễ nhập quan), lót giấy ban, rắc bang hay trà khô để đề phòng hút nước do xác tiết ra. Nhiều nhà còn mời thầy phù thủy làm lễ phạt mộc (chém gỗ). Một tay cầm dao, tay cầm hương, niệm chú, quát tháo, chém vào thành áo quan để trừ ma quỷ còn nấp trong áo quan và trong những tấm ván.
- Phạt mộc xong, thầy phù thủy bỏ vào áo quan một miếng ván thất tinh (bảy ngôi sao) .Theo quan niệm của Đạo giáo thì cõi trời có Ngọc Hoàng thượng đế và nhiều vị thần ngự trị. Trong số các vị thần được người đời thờ kính có Nam Tào, Bắc Đẩu – hai vị thần chuyên ghi chép, kiểm soát sổ sinh tử của loài người. Chòm sao bắc đẩu (đại hùng tinh) tượng trưng cho thần Bắc Đẩu. Bỏ tấm ván thất tinh vào trong quan tài, người ta hi vọng rằng linh hồn người chết sẽ được vị thần giữ sổ tử che chở.
Người nào chết vào giờ xấu thì người ta bỏ thêm vào quan tài một cỗ bài tổ tôm, ngày nay là bài tây hoặc một quyển lịch. Vì “chữ bài” nghĩa hán nghĩa là trừ bỏ hay “lịch” bộ chỉ nghĩa là trải qua, vượt qua. Tức để loại bỏ những điều xấu, vượt qua mọi khó khăn.
- Nhập quan xong người ta đạy nắp quan tài, đóng đinh, khiêng linh cưu ra giữa nhà, trên nóc bày một bát cơm úp (để người chết ăn cho đỡ đói, thể hiện tín ngưỡng phồn thực, hút âm khí người chết tạo ra); cắm một chiếc đũa vót cho sơ ra như gai nhọn (có nơi còn gọi là đũa bông)(Chiếc đũa theo chữ hán là khoái, chữ khoái có bộ tâm mang nhiều ý nghĩa: sướng thích, nhanh chóng, sắc bén, lính đi bắt giặc cướp. Cái gai nhọn chữ Hán là thứ- bộ đao – còn có nghĩa là đâm chết. Như vậy, chiếc đũa gai tượng trưng cho một tên lính đi bắt giặc cướp, người xưa dùng làm bùa trừ ma quỷ.
- Sau đó làm lễ phát tang. Làm lễ nhập tang rồi nhưng chư phát tang thì con cháu có thể cưới chạy tang
Trong mấy ngày linh cưu còn ở trong nhà, gia đình mời phường bát âm tới thổi kèn gõ trống cho tăng thêm không khí sầu thảm.
- Trước hôm đưa ma thì làm lễ thiên cữu : xê dịch linh cữu – rước sang nhà thờ tổ làm lễ yết tổ rồi đưa trở về chỗ cũ.
- Đến ngày đưa đám (phát dẫn), làm lễ tiễn biệt (khiến diện) rồi rước linh cữu lên xe đòn ( đại dư)
Khi đưa tiễn, đi mở đường là hai phương tướng mặc quần áo đạo sĩ, đeo mặt nạ dữ tợn (có khiphương tướng có thể làm bằng giấy hoặc vẽ vào hai thanh gỗ cho trẻ em cầm) để xua đuổi ma quỷ...
- Sau 3 ngày thì làm lễ mở cửa mả : Con cháu đắp lại mộ và mời thầy cúng đến yểm bùa trừ tà ma.
- Nhiều nhà theo phật, trong 7 tuần kế tiếp mời sư tới tong kinh gõ mõ.
- Hết 7 tuần tuân thì thôi không cúng nưa. Đến 100 ngày sẽ cúng tiếp và từ đó sẽ không khóc nữa.
- Sau 3 năm làm lễ cải táng.
Chú ý:
* Theo triết lý âm dương, mọi thứ liên quan đến người chết phải là số chẵn, nhưng khi dùng số lẻ như 3 nén hướng, vái 3 lần thì lại coi người đó như còn sống.
* Cha đưa mẹ đón:
Đám tang cha, con trai chống gậy tre theo sau quan tài. Đám tang mẹ, con trai chống gậy vông nửa dưới đẽo vuông, nửa trên vót nhọn đi giật lùi đằng trước quan tài. Con trai nào vắng mặt thì treo gậy của người ấy đầu đòn đại dư. Nêu con trai nào chết trước thì con trai của người này phải chống gậy thay cha.
Giải thích :
Muốn hiểu được điều này, ta phải nhìn lại xã hội phong kiến ngày xưa. Ai cũng biết rằng Nho giáo rất trọng tôn ti trật tự. Trong gia đình, người cha là trên hết nên cha chết, tất cả con cái phải đi sau quan tài.
Nho giáo trọng vai trò của người đàn ông, miệt thị đàn bà nên “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô; Quyền huynh thế phụ, phu tử tòng tử”, nghĩa là cha chết thì mẹ phải theo con trai. Tuy nhiên Nho giáo cũng bắt con trai cũng như con gái phải thờ cúng cha mẹ. Do đó tục lệ con trai đi giật lùi đằng trước quan tài mẹ vừ giữ được lòng kính trọng của chữ hiếu, vừa giữ được tinh thần trọng nam khinh nữ của Nho giáo.
Gậy tre, gậy vông: gậy tre tượng trưng cho sự ngay thẳng, cứng rắn của cha, màu tre quanh năm không đổi tượng trưng cho nỗi đau của con không nguôi. Gậy vông còn gọi là gậy đồng ý là lòng mẹ vẫn luôn hợp với cha, cây vông còn tượng trưng cho sự thuần hậu, mềm dẻo của mẹ.
Theo thuyết âm dương, vuông tượng trưng cho trời, ý coi cha như trời cao là cha; tròn tượng trưng cho đất, ý coi mẹ như đất dày là mẹ.
* Dọc đường rắc vàng mã : Người ta tin là có nhiều ma quỷ đi theo để ám hại linh hồn người chết nên phải rắc vàng mã để tống tiễn chúng mới chịu buông tha cho người chết.
2.2. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG
2.2.1. Khái quát chung về vị trí địa lý và phân bố
Dân tộc Mường là một trong những dân tộc thiểu số đông nhất ở miền Bắc nước ta, dân số hiện nay ước tính năm 1999, có khoảng 1.137.515 người, chỉ sau các dân tộc Kinh, Tày, Thái, Hoa, Khơme
Dân tộc Mường cư trú trên một địa bàn khá rộng từ Hoàng Liên Sơn, Vĩnh Phúc, Sơn La đến Thanh Hoá, trong đó tập trung đông nhất ở Hoà Bình. Xã hội Mường gồm bồn mường lớn, đó là: mường Bi( Tân Lạc), mường Vang( Lạc Sơn), mường Thàng( Cao Phong), mường Động( Kim Bôi).
Mật độ dân cư dân vùng Mường phân bố không đồng đều. Nhiều nơi dân số trên 100 người/km2 nhưng cũng có nơi chỉ vài chục người trên 1 km2
Dân tộc Mường thuộc Ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Việt – Mường
2.2.2. Sinh hoạt kinh tế
* Trồng trọt
Người Mường biết làm ruộng từ lâu đời và sống định canh định cư. Nghề nông chiếm vị trí hàng đầu trong đời sống kinh tế và cây lúa là cây lương thực. Lúa nếp được trồng nhiều hơn lúa tẻ. Người Mường còn trồng lúa khá nhiều trên ruộng bậc thang. Nhiều mảnh chiều ngang khá hẹp phải dùng cuốc thay cày.
Ruộng nước trước đây phổ biến làm một vụ. Ruộng chiêm không phải vùng nào cũng có và chiếm một tỷ lệ tương đối thấp so với ruộng mùa. Những nơi đã cấy hai vụ lúa thường có đời sống kinh tế sung túc. Những vùng giáp miền xuôi số ruộng làm hai vụ tương đối nhiều hơn.
Kỹ thuật canh tác ở từng vùng có những nét khác nhau nhưng nhìn chung còn thấp. Sau khi gặt, người ta thường cày vỡ chuẩn bị cho vụ sau. Có nơi ở ruộng sâu người ta không cày, chỉ bừa rồi cấy. Một số vùng còn đưa trâu xuống giẫm ruộng cho chết cỏ và nhuyễn đất. Cách thức làm đất nói chung chưa kỹ, thường chỉ cày độ một hai lần, sau đó bừa rồi cấy. Công cụ lao động như cày, bừa còn thô sơ, phổ biến dùng cày chìa vôi, không có khả năng cày sâu. Bừa kiểu nhỏ, răng làm bằng gỗ hoặc bằng tre, bừa răng sắt là loại tương đối hiếm. Cào cỏ ít được dùng, việc làm cỏ chủ yếu bằng tay. Sau khi cấy độ một tháng hoặc hơn một tháng bắt đầu làm cỏ và thường chỉ làm một lần trong vụ.
Trong công việc đồng áng, có thể nói người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi nhỏ. Đồng bào làm mương, phai để lấy nước. Làm phai cần đông người nên nhiều khi phải huy động cả làng cả xóm. Tùy theo mức nước có thể dẫn vào mương mà người ta đắp phai cao hay thấp, nhưng cũng không thể đắp cao quá, dễ bị sức nước phá hỏng. Có những con phai làm khá công phu, dài hàng chục mét. Nước ở sông suối bị phai chặn lại theo các con mương dẫn tới những khu ruộng cao. Từ nơi này, nước chảy dần xuống những khu ruộng thấp hơn. Dọc theo mương, ruộng nào cần tưới, người ta xẻ rãnh hoặc dùng những ống tre, ống nứa cắm vào thành mương để lấy nước vào ruộng.
Nhiều nơi thuộc tỉnh Vĩnh Phúc và Hoà Bình còn dùng xe cọn để đưa nước vào ruộng. Cọn có thể đưa nước lên cao 5- 6m. Có nơi người ta làm thành hệ thống hàng chục chiếc. Tuy nước lấy được suốt ngày đêm, nhưng lượng nước không được nhiều, nên diện tích do xe cọn tưới không lớn.
Người Mường còn làm nương rẫy, diện tích nương không lớn nhưng thường gia đình nào cũng có. Bên cạnh các loại hoa màu, đồng bào còn trồng thêm một số cây công nghiệp và một số cây trồng khác như luồng, trẩu. sở. Một vài vùng có trồng gai, đay, quế, cây thuốc, cây lấy cánh kiến… Bông cũng là loại cây trồng quan trọng trước đây. Số bông sản xuất được đem kéo sợi dệt vải đã tự túc được một phần quan trọng về mặc của đồng bào. Nghề trồng rau chưa được chú trọng, chỉ trồng một ít trên nương, còn phần lớn đi hái rau rừng hoặc măng lam thức ăn hàng ngày. Cây ăn quả chưa nhiều.
* Chăn nuôi
Người Mường chăn nuôi trâu bò chủ yếu để làm sức kéo trong nông nghiệp, trong nghề rừng và một phần để lấy phân bón ruộng. Trâu được nuôi nhiều hơn bò và còn được dùng trong các nghi lễ tôn giáo, trong cưới xin, để trao đổi hay bán cho miền xuôi. Lợn cũng được nuôi, mỗi gia đình đều có một vài con. Hầu như gia đình nào cũng nuôi gà vịt.
Nhiều nơi đồng bào còn có nghề nuôi ong để lấy mật và sáp, mỗi gia đình nuôi vài ba tổ. Mật ong dùng để ăn, nhưng chủ yếu để trao đổi hoặc bán.
* Đánh bắt
Đánh cá cũng là một nghề phụ trong gia đình, tương đối phát triển ở những khu vực ven các con sông và suối lớn. Ở vùng thấp, xung quanh làng xóm đều có ao, đầm, sông, suối nên dễ kiếm cá hơn. Hầu như nam giới người nào cũng biết đánh cá, biết đan chài, lưới và gia đình nào cũng có đánh cá. Các công cụ đánh cá khá đa dạng, ngoài những thứ như chài lưới, vó có nhiều loại khác như đơm, đó, đăng v.v. Vào những ngay cuối năm để chuẩn bị cho thức ăn ngày Tết người ta hay đi đánh cá. Những dịp này, ca kiếm được tương đối nhiều. Một số nơi còn lấy một số loại lá hoặc rễ cây đem giã ra rồi thả xuống nước. Đánh cá kiểu này tuy kiếm được nhiều, nhưng đã chết hàng loạt, ảnh hưởng không tốt đến nguồn cá sau này.
* Săn bắn
Săn bắn là một hoạt động thường gặp trong đời sống hàng ngày của người Mường, nhưng không phải là nguồn sống quan trọng. Săn bắn còn kết hợp với sản xuất để chống thú rừng, bảo vệ mùa màng. Nó không những là một nguồn lợi, nguồn cung cấp thức ăn mà còn là một thú vui. Trong làng xóm, chưa có người chuyên sống bằng nghề săn bắn, nhưng người đàn ông nào cũng biết đi săn và gia đình nào cũng có nỏ và súng. Người Mường có nhiều kinh nghiệm làm nỏ và tên thuốc độc. Với tên thuốc độc, người ta có thể bắn chết những thú lớn trong rừng. Súng có hai loại chủ yếu là súng kíp và hỏa mai, nhưng súng kíp được ưa dùng hơn. Trước đây nhiều vùng có những buổi đi săn tập thể.
Cùng với việc săn bắn, đồng bào còn dùng các loại bẫy để đánh cầy, cáo, chim, chuột…Có nhiều loại bấy khác nhau nhưng phổ biến là loại bẫy sập.
* Hái lượm
Hái lượm là nguồn cung cấp thức ăn hàng ngày như lấy các loại rau rừng, măng, một số hoa quả. Ngoài ra còn bắt tôm tép, cua ốc ở khe suối, ở ruộng hoặc bắt một số loại côn trùng. Lúc đói kém, người ta vào rừng lấy các loại củ: củ mài, mòn, nâu, vỡn hay cày bột báng để ăn thay cơm. Đồng bào còn thu nhặt các loại lâm sản như nấm hương, mộc nhĩ, sa nhân, cánh kiến, các loại hạt có dầu, quế, mật ong, v.v… Những thứ đó, một phần để dùng nhưng chủ yếu để bán hoặc làm vật trao đổi. Những nơi thuận tiện giao thông, đồng bào còn khai thác gỗ, bương, tre, nứa, mây, song…Đó cũng là một nguồn thu nhập đáng kể. Còn những vùng giao thông khó khăn, không có phương tiện chuyên chở, người ta chỉ lấy lâm sản để làm nhà cửa và vật dụng gia đình.
* Thủ công nghiệp
Tuy chưa tách khỏi nông nghiệp, nhưng sản phẩm thủ công nghiệp ngoài phần chủ yếu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đời sống hàng ngày cò có một phần dùng làm vật trao đổi. Những nghề thủ công thường gặp là dệt vải, mặt chăn, cạp váy hoa, nhuộm vải, đan lát, nuôi tằm ươm tơ. Kéo sợi dệt vải là công việc của phụ nữ, nhà nào cũng có khung cửi dệt vải sợi to, khổ hẹp. Bộ công cụ của nghề dệt chủ yếu gồm: dụng cụ cán bông, xa quay sợi, khung dệt dùng bàn đạp và go luồn sợi. Khung dệt cạp váy có cấu tạo khác đôi chút, đặc biệt có nhiều go và hoa văn càng phức tạp thì số go càng phải nhiều. Sản phẩm dệt gồm nhiều loại: vải may mặc, mặt phà làm chăn và đệm, nhưng độc đáo nhất là chiếc cạp váy. Số vải dệt được chủ yếu dùng trong gia đình, váy áo của phụ nữ thường may bằng vải tự dệt lấy. Trước khi cắt may vải thường được nhuộm chàm, nhuôm đen hoặc nâu. Cạp váy hoa dệt khá công phu, mất nhiều thời gian và đòi hỏi có một trình độ kỹ thuật nhất định. Những cạp váy đẹp, dệt bằng tơ nhuộm màu trên có hoa văn hình rồng, hình phượng, hình các loại thú như hươu, rùa, chim và các loại hoa văn hình học, họa tiết càng phức tạp, dệt càng khó, dệt cạp váy hoa hầu như chỉ thấy ở người Mường. Kỹ thuật dệt cũng như trang trí được tiếp nối theo kiểu mẹ truyền con gái. Do vậy mẫu hoa văn khá đa dạng và thể hiện những nét riêng của mỗi cá nhân, mỗi mường bên cạnh mô típ truyền thống chung của dân tộc. Trước kia nghệ thuật dệt cạp váy là một trong những tiêu chuẩn đánh giá đức hạnh của người phụ nữ. Hàng dệt Mường, nhất là cạp váy, mặt phà làm chăn và đệm rất được ưa thích trên thị trường.
Nghề thủ công còn sản xuất nông cụ, gia cụ và đồ nghề đánh cá.
Song một số nghề thủ công quan trọng như nghề gốm, đúc kim loại, rèn, hầu như không có. Những sản phẩm bằng gốm, bằng kim khí, đều phải mua hoặc trao đổi.
2.2.3. Văn hoá vật thể
2.2.3.1. Làng bản, nhà cửa
Làng xóm của người Mường thường được xây dựng ở dưới chân đồi, chân núi, nơi đất thoải, gần sông, suối, v.v…Mỗi làng thường có khoảng vài chục nóc nhà (ít làng có tới trên một trăm ). Không có một quy định chung nào về cách thức xây dựng cũng như hướng nhà. Làng bản mường sống tập chung thành từng chòm, từng xóm, ẩn khá kín dưới màu xanh của cây cối trồng quanh nhà. Các bản mường thường có khoảng từ 20 đến 30 nóc nhà, và nếu bản to thì có thể nhiều hơn nữa. Bản làng thường dựng nơi gần nguồn nước, gần đồng ruộng, thuận lợi cho lao động sản xuất. Tuy vậy, bản làng của người Mường ít khi lộ rõ để người ngoài dễ phát hiện vì được bao bọc bởi luỹ tre và cây ăn quả. Đường vào bản thường là những con đường mòn nhỏ quanh co tạo cảm giác dễ nhầm, dễ lạc. Và đối với người Mường, họ không coi trọng việc dựng nhà lập bản sao cho thuận tiện giao thông đi lại. Vì lẽ đó mà muốn vào bản làng hay nhà của người Mường thường phải băng qua con đường nhỏ nối làng với đường chính hoặc lội qua những con suối, ngòi.
Nhìn từ xa, làng của đồng bào Mường thường lẩn trong những đám cây. Quanh làng, nhiều nơi cũng có răng tra bao bọc, tuy chưa thành một lũy kín. Làng Mường còn được tô điểm bởi những hàng cau cao.
Nhà cửa
Người Mường sống trong những ngôi nhà sàn truyền thống, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu ở những dải đồng bằng thung lũng hẹp, doi đất ven sông, ngòi, dưới chân các dãy núi hay trên các đồi gò thấp. Với người Mường nói chung, nhà là nơi diễn ra và chứng kiến những sự kiện như sinh, hôn, tử của một vòng đời. Từ đó, ngôi nhà không chỉ có ý nghĩa đối với gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng xã hội, không chỉ là nhu cầu về vật chất là để trú ngụ nắng mưa, ngủ nghỉ, mà còn đáp ứng nhu cầu tâm linh.
Người Mường không coi trọng nhiều đến dựng nhà theo hướng nào mà chỉ cốt thuận lợi cho đi lại cho lao động sản xuất. Từ dụng ý này mà làng bản của người Mường đều giống nhau ở chỗ lộn xộn, chồng chéo, không có sự thống nhất hay quy định chung về hướng nhà. Nhà dựng ở đồi gò thì lưng dựa vào đồi gò, cửa hướng ra khoảng không thung lũng, cánh đồng trước mặt. Nhà dựng ở ven sông thì mặt có thể hướng ra dòng sông hay hướng vào trong... Tất cả những cái tưởng chừng là “lộn xộn” đó lại tạo cho bản làng của người Mường cảm giác vừa vững vàng vừa cởi mở với những nét độc đáo riêng.
Nhà sàn của người Mường là kiểu kiến trúc cổ truyền. Việc dựng nhà sàn của đồng bào là kết quả của một quá trình dài đúc rút kinh nghiệm cư trú. Điều đó thể hiện ở bản mo nổi tiếng họ là “Te tấc te đác” (đẻ đất đẻ nước). Trong bản mo đồ sộ này có đoạn nói về sự ra đời của nhà sàn người Mường. Mo rằng: Khi người Mường sinh ra nhà chưa có nên phải sống trong các hang núi, hốc cây, họ phải đối mặt với nhiều thiên tai hiểm hoạ. Một hôm, ông Đá Cần (còn gọi là lang Cun Cần) bắt được một con rùa đen trong rừng đang định đem ra làm thịt. Rùa van xin Đá Cần tha chết và hứa nếu được thả thì rùa sẽ dạy cho ông cách làm nhà để ở, làm kho để lúa để thịt:
Bốn chân tôi làm nên cột cái
Nhìn sườn dài, sườn cụt mà xếp làm rui
Nhìn qua đuôi làm trái
Nhìn lại mặt mà làm cửa thang cửa sổ
Nhìn vào xương sống làm đòn nóc dài dài
Muốn làm mái thì trông vào mai
Vào rừng mà lấy tranh, lấy nứa làm vách
Lấy chạc vớt mà buộc kèo
Lần dựng thứ nhất, nhà đổ. Ông Đá Cần doạ làm thịt rùa. Rùa lại phải dặn lấy gỗ tốt mà làm cột làm kèo… Từ đó, người Mường biết làm nhà để ở.
Việc dựng nhà của người Mường đòi hỏi nhiều công đoạn, nhiều sức lực nên họ có tục giúp đỡ nhau. Người giúp gỗ, người giúp lạt, người giúp công, giúp sức. Trước kia, để nhận được sự giúp đỡ của dân làng, gia đình làm nhà phải chuẩn bị một lễ nhỏ mang đến nhà Lang để nhờ Lang báo cho mọi người trong bản làng biết. Mỗi gia đình sẽ cử một người đến giúp. Người ta phân công những công việc cụ thể cho mỗi thành viên đảm nhận như xẻ gỗ, đan nứa, pha tre, đan gianh cọ, lợp mái… Gia chủ làm nhà tuỳ vào điều kiện kinh tế mà nhận sự giúp đỡ khác nhau. Nhà khá giả thì mọi người giúp ít và ngược lại.
Trong quá trình dựng nhà của người Mường, thầy mo có vai trò tương đối quan trọng. Mở đầu việc dựng nhà, ông mo làm lễ cắm cọc vào nơi làm cầu thang. Sau đó, chủ nhà cày ba luống làm lệ trên nền làm nhà. Ông mo đi sau vảy nước vào những luống cày đó và khấn vía lúa. Người làm nhà chuẩn bị vài cụm lúa đã tuốt hết hạt chỉ còn cọng rơm ném ra xa rồi cầm đòn xóc đâm vào cụm lúa nâng lên. Mỗi lần nâng đòn xóc lên rồi lại để xuống và hát giang ý nói rằng “lúa đẹp, lúa nặng, lúa bay về nhà để cho no cho đủ…”. Ông mo nâng các cụm lúa lên trên tay rước đi vài vòng rồi giang mo “đẻ đất đẻ nước” đoạn nói về rùa dạy dân làm nhà. Tiếp theo ông mo vảy một thứ nước mà đồng bào cho đó là nước phép vào những hố chôn cột để xin thần linh cho gia chủ làm nhà mới.
Người Mường kiêng không để mấu của đòn tay quay xuống mặt sàn. Khi bắc đòn tay thì ngọn phải quay về gian cuối, gốc ở gian đầu nơi có cầu thang lên xuống. Gian này được gọi là gian gốc. Sào nhà gác lên thượng lương. Gốc sào cũng phải quay về gian gốc. Tre nứa dùng làm nhà phải không được cụt ngọn, không bị sâu hay bị đốt cháy dở. Gỗ làm nhà phải là loại gỗ chắc đảm bảo không mối mọt và thường là gỗ lim xanh, mài lái… Người Mường đặc biệt quan tâm đến những cây gỗ mọc ở núi đá như giống gỗ heo vì giống gỗ này chặt đốn thì mềm nhưng khi chôn xuống đất hàng trăm năm cũng không mục mại. Có nơi đồng bào còn kéo gỗ ra ngâm bùn tại ngòi, suối khoảng một hai năm mới vớt lên làm.
Những cây gỗ được chọn làm cột, sau khi lắp mộng, dựng khung, được chôn thẳng xuống những hố đã đào sẵn sâu khoảng 20 – 30 cm. Tục chôn cột nhà, ngoài dụng ý cho vững chắc khung nhà khi lợp mái, làm sàn, làm vách, còn có ý nghĩa tâm linh, thể hiện cho sự hoà hợp âm dương, một biến thể của tín ngưỡng phồn thực. Cho đến nay, đa số người Mường đã thay đổi tục chôn cột nhà bằng cách nâng cột lên mặt đất và kê lên những phiến đá chống mối mọt. Tuy nhiên cột nhà của người Mường Thanh Sơn không được gia công bào gọt nhiều như cột nhà của người Thái và người Mường ở Hoà Bình. Nếu cột nhà của người Thái Sơn La được xẻ, bào, đẽo cho vuông thành, thì cột nhà của người Mường Thanh Sơn chỉ bào lớp vỏ ngoài và để tròn.
Người Mường dùng con xỏ bằng tre, con then bằng gỗ, đinh kèo bằng gỗ… để đóng thay cho đinh sắt. Họ dùng lạt mây, giang hoặc tre bánh tẻ để buộc níu các ngoàm đẽo hoặc cột kèo. Khung nhà sàn của người Mường được dựng hoàn toàn bằng cách ghép mộng, đục đẽo mà thành. Đòn tay (tôn thảy) được đặt dọc mái nhà. Đòn tay cái có miếng tre kẹp chặt đòn tay vào đầu cột cái gọi là cái khoá kèo. Mái nhà lợp bằng lá cọ hoặc bằng cỏ gianh. Những cây nứa ngộ (loại nứa to và dày) vàng óng được lựa chọn kỹ để pha nan kẹp lá (như cái gắp dùng để kẹp cá nướng). Cứ như thế, những kẹp lá cọ được đưa lên mái buộc thẳng vào dui mè. Đây là cách lợp mái nhà theo tục truyền thống còn tồn tại phổ biến cho đến ngày nay. Tuy vậy ở một số nơi, người Mường đã thay cách lợp nhà. Lá cọ được đưa lên lợp vào dui mè mà không cần kẹp nữa. Mái nhà sàn khum khum hình mai rùa.
Nếu như nhà sàn của người Mường ở Hoà Bình phổ biến là bốn mái (hai mái đầu hồi và hai mái dài). Sàn nhà thấp giống sàn nhà của người Thái thì nhà sàn của người Mường ở Thanh Sơn cũng như nhà sàn Yên Lập chủ yếu là loại nhà sàn hai mái mà không có mái đầu hồi. Mái nhà dốc vảy gần sát sàn. Nhà của người Mường không có sàn thềm bên ngoài như của người Thái. Sàn nhà được làm bằng những cây bương già thẳng pha thành mảnh dát xuống lược bỏ mắt và cạnh sắc ghép liền với nhau, dùng lạt mây buộc chặt kết thành từng mảnh buộc chặt vào khung sàn. Những sàn nhà của nhà Lang trước đây thì thường dùng gỗ tốt như lim, gụ làm sàn nên qua thời gian sử dụng, những tấm ván lên nước bóng láng. Từ mặt đất lên sàn nhà thường cao khoảng 2 đến 2,5 m tuỳ từng nơi ẩm thấp hay cao ráo.
Công việc làm nhà tiến hành trong 4– 5 ngày thì kết thúc. Ngày lợp mái, gia chủ tổ cúng tổ tiên, thổ công cai quản nơi mình ở. Lễ cúng gồm xôi nếp và thủ lợn bày ở khoảng đất trống chọn làm sàn. Nhà làm xong, gia đình lại tổ chức cúng tổ tiên, thổ công, ma rừng, ma cây, ma bến nước, ma đồi gò… thông báo rằng gia đình đã có một ngôi nhà mới, mời tổ tiên về chung vui với con cháu phù hộ gia đình may mắn.
Nhà của người Mường thường ba đến năm gian. Nhà dù ít hay nhiều gian đều có một sàn bên trái để bắc cầu thang và máng nước sinh hoạt. Gian đầu tiên từ cầu thang lên gọi là gian gốc. Đây là gian quy tụ mọi tính linh thiêng của ngôi nhà, là nơi xuất phát những tục lệ đối xử hành vi của con người với ngôi nhà.Ở gian gốc có một cây cột to hơn các cây cột khác trong nhà gọi là cột gốc (còn gọi là cây cột chồ) ở đầu góc nhà gần cầu thang. Cây cột gốc được đồng bào trân trọng đặt khám (bàn thờ) thờ tổ tiên. Mọi người kể cả chủ hay khách đến nhà chơi đều không được bôi nhọ, dựa lưng, gác chân, buộc đồ vật hay treo quần áo vào cột này. Phần cột dưới sàn cũng không được buộc trâu bò hay dựng, treo công cụ lao động. Người Mường quan niệm nếu phạm phải những điều cấm trên thì bị coi là xúc phạm đến gia đình, tổ tiên và thần linh. Gian nhà gốc chỉ dành riêng cho nam giới. Phụ nữ trong nhà không được ngồi nghỉ hoặc làm việc ở đây. Trong các ngày trọng đại như hôn lễ, ma chay thì chỉ nam giới có vai vế trong dòng họ được ngồi ăn uống.
Tại gian nhà linh thiêng này có một cửa sổ làm sát đến sàn nhà gọi là cửa sổ “voóng” linh thiêng, không ai được đưa vật gì hay chui qua. Cửa sổ voóng chỉ dành để đưa quan tài ra ngoài khi gia chủ có tang ma. Đối diện với cột chỗ ở gian gốc có một cột nhà tương đối quan trọng. Ở chân cột này, người Mường để vào cum lúa đã tuốt hết hạt. Đầu cột đội một cái giỏ thủng biểu hiện cho âm tính (đồng bào gọi là nường). Bên cạnh đó, người Mường treo một đoạn tre tước xơ một đầu cho bông lên biểu hiện cho dương tính (gọi là nõ). Điều này thể hiện đời sống tâm linh, nói lên sự hỗn hợp, cân bằng âm dương, sự ổn định và thuận hoà của cả gia đình.
Gian thứ hai của ngôi nhà (gian kế theo gian gốc) dành cho nam giới ngủ nghỉ. Gian giữa thường là gian để thóc và làm bếp. Lúa gặt ở ruộng nương về phơi khô khi chuyển lên nhà được để ở đây. Họ xếp lúa vào một cái quây như cái bồ thủng đáy đan bằng nứa hoặc giang để gần bếp. Bếp của người Mường là rất công phu. Khuôn bếp được làm bằng loại gỗ đặc biệt cứng, có đường viền xung quanh, đáy lót bằng bẹ chuối rồi rải bùn lên trên. Khi chuyển bếp mới, người Mường tìm một số loại cỏ thơm như cỏ mật phơi khô để vào bếp đốt lấy tro rồi mới bắc kiềng nấu nướng. Bếp thường đặt trên trục nhà nơi nóc dọi xuống. Có nhà bếp đặt gần cửa sổ để thông gió, tránh khói và hoả hoạn. Tuy vậy, việc đặt bếp ở cửa sổ ít được ưa chuộng hơn vì đồng bào quan niệm nếu đặt bếp gần cửa sổ thì hơi ẩm từ bếp toả ra ngôi nhà không đều. Nhà người Mường thường có hai bếp chuyên dụng. Một bếp để nấu nướng thức ăn, và phụ nữ, trẻ em trong gia đình ngồi sưởi. Một bếp nhỏ hơn đặt ở gian gốc dùng để cho đàn ông trong gia đình ngồi sưởi vào mùa đông và đun nước uống hàng ngày hoặc tiếp khách. Bếp này người phụ nữ trong gia đình ít khi được ngồi hoặc sử dụng, trừ phụ nữ cao tuổi như bà, cụ hay con gái út được yêu quý nhất.
Gian cuối cùng là nơi dành cho phụ nữ sinh hoạt có chạn bát, để đồ dùng gia đình, nơi sửa soạn cơm nước. Gian này được ngăn với các gian khác trong nhà bởi một tấm liếp. Đây cũng là nơi người phụ nữ thay quần áo và ngủ nghỉ. Đầu hồi nhà, người Mường để một cái cối đuống và một cối tròn. Cối đuống không chỉ dùng để giã thóc gạo mà còn là phương tiện để gia đình báo nhà có việc lớn như đám cưới mà tang ma. Bên cạnh đó, cối đuống còn là một nhạc cụ sử dụng để gõ những bản nhạc vui trong ngày lễ tết, hội hè với những bản đuống rộn ràng âm vang, người Mường gọi là “đâm đuống” hay “châm đuống”. Dưới sàn nhà, người Mường nuôi gà, trâu hoặc để cất các công cụ sản xuất như cày, cuốc, liềm, nong, nia… Nhà của người Mường thường chỉ có một cầu thang. Song những ngôi nhà dài từ 7 - 12 gian thì phải làm hai cầu thanh ở hai đầu nhà. Những nhà có hai cầu thang như vậy khá hiếm vì người Mường quan niệm đó là sự xui xẻo, kiêng kị, của nả sẽ không giữ được trong nhà “vào đầu này ra đầu kia”.
Khuôn viên
Trước đây khuôn viên của mỗi hộ được bảo vệ khá cẩn thận. Nhất là ở những nơi gần rừng có nhiều hổ lang. Xung quanh khuôn viên được rào dậu khá chắc chắn. Tre nứa để nguyên cây dài chừng 3-4 m, chân chôn xuống đất, đầu vạt nhọn chĩa lên trời như hàng ngàn ngọn giáo. Đến nay những vòng rào như thế đã trở nên hiếm hoi vì thú dữ không còn. Sự thay đổi trong khuôn viên không chỉ có thế mà sự thay đổi này tương ứng với sự thay đổi của nhà ở. Trước đây với ngôi nhà sàn cổ truyền thì trong khuôn viên chỉ có một ngôi nhà chính là nhà sàn, nếu có thêm là một miếu thổ thần đặt ở một góc vườn. Bên cạnh nhà ở là một mảnh vườn nhỏ được rào cẩn thận để tránh gia súc phá hoại cây trồng trong vườn.
Khi nhà bếp tách khỏi nhà ở thì một nhà khác với chức năng là nhà bếp được làm bên cạnh nhà chính. Nếu trâu bò không nhốt dưới gầm sàn nhà chính và bếp thì lại xuất hiện thêm một nhà nữa để nhốt trâu bò .
Cho đến khi nhà chính là nhà đất thì sân xuất hiện thay cho sàn phơi ở nhà sàn. Có hộ tuy có sân nhưng vẫn làm sàn phơi bên cạnh hoặc trước hiên nhà. Còn rào dậu xung quanh khuôn viên thì tùy thuộc vào tình hình an ninh của từng nơi. Những nơi gần rừng núi hoăc an ninh xã hội không đảm bảo thì rào dậu xung quanh khuôn viên được làm chắc chắn hơn. Trái lại ở những nơi xa rừng, không có thú dữ và ít trộm cắp thì vòng bảo vệ này rất sơ sài, chỉ còn là ranh giới khẳng định phạm vi đất đai cúa các hộ.
Kết cấu bộ khung nhà
Theo quy cách cổ truyền thì bộ khung nhà của người Mường cũng được hình thành trên cơ sở các vì kèo, đúng hơn là một dạng trung gian giữa vì cột và vì kèo. Hay nói cách khác đây là kiểu vì đang trong quá trình chuyển hóa từ vì cột sang vì kèo. Nói như vậy vì: bộ kèo chưa phải là một bộ phận hữu cơ của cột, nó chỉ gá vào đòn tay cái, chân của nó khớp một cách lỏng lẻo vào đầu cột con.
Ở nhà người Mường hầu như chỉ có một kiểu vì duy nhất. Đó là kiểu vì bốn cột: hai cột cái, đầu cột đấu vào quá giang và đội đòn tay cái, hai cột con ở bên ngoài hai cột cái, chúng không có liên hệ gì ( không có xà ngang ) với cột cái, nếu không đươc khớp vào chân kèo . Còn bộ kèo gồm hai kèo đơn, đầu ngoàm vào nhau, hai chân doãng ra giống hình chữ A. Gần chỏm kèo có một thanh ngang gọi là quyết đồ giằng lấy hai kèo. Dưới bụng kèo nơi giáp đòn tay cái có cái ngạnh ( kể ca, pà wắc, cu ) gác trên đòn tay cái đê kèo khỏi bị tụt. Lưng kèo được đóng một hàng đinh bằng tre nhô cao khoảng 5cm để đỡ các đòn tay. Nếu là vì ở đầu hồi thì quyết đò còn là nơi hội tụ pắp cal ( bắp cày ). Và hai léo hè là hai bộ phận làm giá đỡ của bộ khung mái đầu hồi. Đó là kiểu vì cổ truyền của người Mường nhưng đến nay, kiểu vì này đã có nhiều thay đổi và dần dần mất hẳn để thay thế bằng các kiểu vì kèo nhà người Việt.
2.2.3.2. Trang phục
Trang phục của phụ nữ
Bộ trang phục truyền thống của người phụ nữ Mường gồm có khăn, áo, yếm, dây lưng, váy, đồ trang sức.
Thiếu nữ Mường đến tuổi, chải ngược tóc về phía sau gáy rồi cuộn lại thành búi, dùng trâm bằng sừng, gỗ, bạc, gài cho búi tóc gọn chắc. Tuy vấn tóc theo những cách thức khác nhau, nhưng không mấy khi thấy phụ nữ Mường để đầu trần, mà thường đội khăn (người Mường gọi là mũ) vải màu trắng hay đen. Phụ nữ Mường ở Hoà Bình, Sơn La, Phú Thọ thì dội khăn màu trắng, còn ở Thanh hoá phụ nữ Mường độ khăn mầu đen, chàm phụ nữ thường phủ hờ khăn lên chỏm đầu, mí riềm khăn hơi chúi thấp xuống ngang trán, còn búi tóc sau gáy vẫn để lộ ra ngoài vành khăn. Còn khi cần gọn ghẽ, khoẻ khoắn, thì phụ nữ trùm khăn lên đầu, rồi vòng hai góc khăn buộc gọn lấy búi tóc phía sau, mối khăn dắt kín hay để buông. Các cô gái trẻ thường có kiểu đội khăn thành chóp nhô cao trên đỉnh đầu, còn những bà mế Mường thì lại ưa đội thành hình góc hai bên đầu, tạo cảm giác đằm thắm và tĩnh lặng của lứa tuổi đã qua nhiều từng trải.
Trong sinh hoạt ngày thường phụ nữ thường mặc áo ngắn ( áo pắn) đây là loại áo ngắn tứ thân, mở ngực, cổ tròn hoặc cổ thìa, không có khuy cài (Hoà Binh) áo ngắn chui đầu, cổ tròn hoặc cài khuy ở một bên vai (Thanh Hoá). Áo thường không có trang trí hoa văn, vải một màu, thường là màu sáng
Những dịp lễ hội, cưới xin, phụ nữ Mường còn mặc ngoài chiếc áo chùng, vạt phủ dài tới tận bắp chân. Thường thì áo chùng vải màu sẫm, cũng có khi màu trắng hay đỏ. Áo may kiểu bốn thân, thân trước và hai thân sau, áo xẻ ngực, không có cúc và khuy, mà chỉ để mở hay thắt hai vạt lại với nhau, vạt nọ bắt chéo vạt kia, rồi dùng thắt lưng thắt lại, hai đầu thắt lưng buông thõng hai bên. Thường lúc này, người ta chỉ thấy một khoảng yếm bên trong hay thấp thoáng đôi chút rìa trên cạp váy.
Áo chùng Mường có thể mặc đơn hay mặc kép kiểu mớ hai, mớ ba như phụ nữ Kinh. Đó là kiểu ăn mặc quý tộc của các Nàng con nhà quý tộc Mường thời xưa. Nếu mặc kiểu mớ hai thì áo trong màu trắng, ngoài màu đen, còn mớ ba thì áo chùng đỏ mặc ngoài cùng. Cùng kiểu mặc mớ hai, mớ ba như người Kinh nhưng cách sử dụng màu sắc trong kiểu mặc này thì người Mường lại gần gũi hơn với người Thái. Phụ nữ Kinh ít khi dùng các màu sắc đối chọi : đen, đỏ, trắng chồng lên nhau. Có thể đây cũng là nét riêng trong phối màu của người Mường mà chừng nào ta đã thấy trên hoa văn cạp váy.
Trong ngày hội, các mế, các chị mặc áo chùng hoà vào cuộc vui trên những áng ném còn, trong đoàn sắc bùa chiêng cồng trên tay vừa đi vừa hát. Trong lễ cưới cô dâu cùng hai người piềng (phù dâu) mặc áo chùng ngồi trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng. Các mế, các chị ngồi uống rượu cần, ăn trầu trong bộ váy chùng, vạt trước thu vào lòng.
Giống như phụ nữ Kinh xưa kia, phụ nữ Mường cũng mặc yếm (yêm) che phần ngực, có dải vải buộc vào cổ và sau lưng. Khi mặc, cạp váy che khuất phần dưới yếm, chỉ để hở phần nhỏ gần cổ. Tuỳ từng người, từng trường hợp, người ta có thể chọn yếm trắng hay yếm màu hồng, màu hoa lý…
Từ khoảng nửa thế kỉ nay, bộ nữ phục của người Mường đã dần trở nên quen thuộc, gây ấn tượng với chiếc váy bó sát thân, cạp hoa phô trước ngực, chiếc áo cánh lửng, chiếc áo chùng buộc vạt, thắt lưng xanh, tấm khăn trắng đội đầu, vòng kiềng sáng lóng lánh…
Chiếc váy của phụ nữ Mường thực sự đóng vai trò trung tâm của bộ nữ phục. Nó phủ không chỉ từ thắt lưng trở xuống mà còn che cả phần ngực. Hơn thế nữa, trên phần cạp váy che ngực là nơi duy nhất người phụ nữ Mường dụng công trang trí, là một mảng quan trọng còn lại của nghệ thuật tạo hình cổ truyền dân tộc.
Váy của phụ nữ Mường may cắt từ loại vải bông tự dệt, nhuộm màu chàm đen, phần cạp váy dệt từ sợi tơ tằm. Váy đã khâu lại thành hình ống tuy nhiên, vì chiều ngang váy còn rộng, nên khi mặc phải quấn quanh thân, phần thừa gập lại thành nếp suốt chiều dài thân váy phía trước.
Thoạt nhìn, ta cứ tưởng phụ nữ Mường chỉ dụng công nơi cạp váy, còn phần từ thân váy trở xuống có phần nào đơn điệu, sẫm tối. Phụ nữ Mường nhuộm vải thân váy khá công phu, tạo nên mầu vừa bền vừa bóng. Gấu váy có nhiều miếng vải lót phía trong, trang trí một cách kín đáo. Tuy vải nẹp chỉ rộng chừng hơn một đốt tay, mà lại ẩn bên trong, nhưng phụ nữ Mường ra công nhuộm hồng hoặc đỏ, xanh, điểm vào những bông hoa. Khi ngồi, nẹp trong gấu váy lộ ra từng đoạn, đủ khoe vài bông hoa. Khi đi, váy xập xoè theo nhịp bước, nép trong gấu váy thoáng ẩn thoáng hiện trông rất mơ hồ.
Váy nào cũng có cạp, nhưng bộ cạp váy của người Mường thì dường như duy nhất. Người Mường gọi là đầu váy- Klốc váy. Gọi chung là thế, nhưng thực ra cạp váy Mường ghép lại từ ba bộ phận: rang trên, rang dưới, và cao, chúng khác nhau về vị trí trên cạp váy, kích tấc rộng hẹp và đặc biệt là kiểu loại các văn hoa trang trí. Nếu hoa văn trên rang dưới chủ yếu là hoa văn động vật (rồng, công, rùa, răng dùi…) thì hoa rang trên và cao chủ yếu là hoa văn hình học (sao, ô vuông, ô trám, chữ thập…). Bố cục trang trí trên ba bộ phận này cũng có khác biệt. Nếu bố cục trang trí truyền thống, thì ở trên cao, hoa văn lại trang trí theo lóng dọc thân váy.
Màu sắc hoa văn trên cạp váy thường là những màu nguyên : xanh, đỏ, vàng, đen, trắng, tuy nhiên, khi chúng được đan rậm lại với nhau và phối màu trên nền chàm đen làm cho các tông màu như chìm hẳn xuống, chứ không nổi rừng rực như màu sắc hoa văn trên khăn piêu Thái, váy áo Mông.
Trong bộ nữ phục Mường, chiếc thắt lưng (tênh) tuy đơn sơ nhưng lại có vị trí nổi bật, nó tôn thêm vẻ đẹp sang trọng của cạp váy, hoà sắc với chiếc áo chùng. Tênh may bằng vải hay lụa, dài chừng hơn sải tay, thắt đúng giữa eo trên nền cao váy, thắt ra ngoài áo chùng. Thắt lưng Mường có nhiều màu : trắng, xanh, tím, vàng, nhưng đẹp nhất vẫn là thắt lưng màu lá mạ, tạo được phối sắc hài hoà với cạp váy, thân váy, áo cánh ngắn và áo chùng. Thắt xong, hai đầu tênh để thả mối ở hai bên hông, tiếng Mường quen gọi là tụm tênh. Tụm tênh nép mình với xống áo khi ngồi, phất phơ phô diễn theo bước đi, đã tạo nên những ấn tượng khó quên cho người đã từng một lần nhìn ngắm : « Ai về qua dãy núi Kim Bôi, nhắn rằng, tim tôi không phai mờ, hình dung một chiếc thắt lưng xanh… ».
Tuy cùng có những điểm chung trong cấu tạo của trang phục, phụ nữ Mường Hoà Bình và Mường Thanh Hoá vẫn có nhiều điểm khác nhau khiến ta dễ dàng nhận ra họ. Phụ nữ Mường Hoà Bình đội khăn trắng, áo ngắn, mở ngực, không khuy, cổ tròn, tim hay cổ thìa. Trước đây họ chủ yếu mặc áo trắng, hai vạt hai bên có đính túi. Áo ngoài mở ngực phủ chiếc yếm lớn ở bên trong với nhiều màu sắc. Phụ nữ Mường Thanh Hoá lại đội khăn màu chàm hoặc đen. áo của họ có cổ tròn, khuy bên vai phải. Khác với phụ nữ Mường Hoà Bình, cạp váy của họ bao bọc bên ngoài áo, thắt lưng buộc bên trong. Chiếc cạp váy củ họ trnag trí màu tối hơn so với người Mường ở Hoà Bình. Họ đã chịu ảnh hưởng của văn hoá Thái thể hiện ở việc chân váy có thêu hoa văn (bình thường không có).
Phụ nữ Mường dùng hai loại nón. Trong các đám hội, họ mặc áo chùng, tay cầm nón lá, giống như kiểu nón lá quai thao của phụ nữ Kinh xưa kia. Mặt ngoài nón phẳng, mặt trong nón gắn vành tre đan nhỏ, khi đội ôm gọn lấy khuôn đầu. Tuy nhiên, loại nón này không phải bao giờ cũng để đội. Thường ngày, khi đi làm đồng, ngoài chiếc khăn đội đầu, những ngày nắng gắt, mưa dầm, phụ nữ Mường còn đội nón thúng. Nón đan bằng tre, phết thêm sơn cho bền, phía ngoài hơi khum, mặt trong phẳng, nhưng giữa nón có cái đế đội lọt vào chỏm đầu cho chắc.
Trong bộ trang phục Mường còn có các đồ trang sức như khuyên tai, trâm cài đầu, vòng cổ, vòng tay và xà tích. Ngày thường, những đồ trang sức này là thứ vật quý, nhất là những đồ trang sức làm bằng bạc, người ta cất giữ trong hòm, trong rương. Vào những ngày lễ tết, hội hè, cưới xin, phụ nữ mới mang ra dùng. Đôi vòng cổ bằng bạc sáng lóng lánh đã thực sự là bộ phận trang phục không thể thiếu được của người phụ nữ Mường. Người Mường dùng hai vòng cổ (lằm), loại dẹt có nổi gờ ở giữa gọi là lằm ba, loại tròn gọi là lằm lâm. Trên mặt vòng cổ lằm ba chạm trổ văn hoa văn hình dây rất tinh tế, còn trên vòng lằm lâm thì chỉ chạm hoa văn hoa thị. Phụ nữ Mường ít khi đeo vòng đơn, mà lại thường đeo vòng kép, một chiếc to và một chiếc nhỏ.
Cũng có khi người ta đeo vòng cổ cùng với chuỗi hạt cườm, đó là thứ trang sức quý hiếm hơn cả bạc, cái đẹp phải đổi ngang giá một con trâu hoặc bò. Vòng hạt cườm gọi là Pươn khau, lại làm bằng đá màu, hình sáu hoặc tám cạnh, gọi là khau bắn.
Bộ tà xích bằng bạc cũng là đồ trang sức quen thuộc của phụ nữ Mường. Bộ xà tích đẹp có ba hoặc bốn dây gập lại thành sáu hay tám móc vào thắt lưng từ phía hông trái, trên đó còn treo thêm hộp trầu, chùm vuốt hổ bằng bạc.
Các mế, các chị người Mường quen ăn trầu và nhuộm răng đen. Tục này bắt đầu từ tuổi các cô gái trưởng thành, vừa là nét đẹp theo quan niệm cổ truyền, vừa là dấu hiệu đánh dấu sự thay đổi từ con trẻ thành cô gái Mường.
Trang phục của nam giới
Bộ nam phục Mường gần giống với nam phục người Kinh, gồm áo ngắn, áo chùng, quần, thắt lưng, khăn,…
Xưa, đàn ông búi tóc, trên đầu bịt khăn, mối khăn vòng sau gáy, gài dưới mái tóc. Còn loại khăn khác nữa ngắn hơn, bịt từ phía sau ra trước trán rồi thắt mối, hai mối khăn dựng nghiêng giống như hai cái sừng trông thật khoẻ khoắn và độc đáo.
Áo cánh ngắn bốn thân may từ vải bông hay vải tơ tằm, vạt dài gần chấm mông, vai có miếng vải đệm hình lá sen, tiếng Mường gọi là lá hôi, hai bên hông áo xẻ tà. Nẹp áo ngực đơm khuy cài cúc, ba túi, hai túi to phía dưới hai vạt trước và túi nhỏ trên vạt ngực trái, tay nối liền với cầu vai. Áo cánh nam may vừa, tạo dáng khoẻ khoắn của đàn ông.
Quần vải chàm may rộng, chúng tới mắt cá chân, cạp to, khi mặc dùng dây vải buộc ngoài cho chặt, nay người ta may cạp quần dải rút. Ngày xưa, nam giới Mường còn dùng thứ thắt lưng nơi eo bụng, gọi là khăn quần. Loại thắt lưng này dài gần bằng cái tênh của người phụ nữ, thắt xong để xoã mối xuống chấm đầu gối, mà có người cho đó là dấu vết của dải khố ngày xưa.
Trong ngày lễ hội, đàn ông Mường mặc những bộ quần áo mới. Bộ nam trang phục trang trọng thường là bằng vải lụa, màu tím, xanh hoặc màu vàng tơ tằm, đầu chít khăn màu tím than, thắt lưng lụa màu xanh đậm ngả tím, bên ngoài khoác thêm chiếc áo chùng lụa, màu đen, cổ cao, vạt dài phủ gối, cài khuy áo phía nách phải, hai bên tà áo xẻ cao.
Trang phục nghi lễ
Trang phục của người Mường gọi chung là đồ tem. Toàn bộ thân nhân của người quá cố đều phải mặc đồ tang. Với phụ nữ là váy không có cạp hoa, áo cánh, áo chùng, thắt lưng, khăn, tất cả những thứ đó đều bằng vải bông tự dệt, màu trắng, may kiểu lộn trái ra ngoài. Việc mặc đồ tang của người Mường còn tuỳ thuộc vào hoàn cảnh từng gia đình, từng gia tộc. Thí dụ, nếu con dâu mà bố mẹ để của mình còn sống thì chỉ mặc váy, tênh và khăn trắng để tang bố mẹ chồng, nếu một trong hai bố mẹ đã mất thì mặc thêm áo cánh trắng. Còn đã mất cả thì mặc đồ tang phục như đã nêu trên.
Trong tang lễ Mường có người phải đóng vai trò quạt ma và có tang phục riêng cho người này trong khi thày mo làm lễ mời cơm, mời bánh cho hồn người quá cố. Người được chọn mặc đồ tang quạt ma thường là em dâu, con dâu, cháu dâu thuộc bên nội hay ngoại. Bộ tang phục này thường rất đẹp, lộng lẫy, váy đen có cạp hoa đẹp, yếm đỏ, áo cánh mới, áo chùng trắng bên ngoài khoác thêm áo thụng may bằng vóc màu đỏ, cài khuy cúc ở bên trái. Trên tay đeo nhiều vòng, nhẫn đẹp, tay phải cầm quạt múa, tay trái cầm một cành cây vót tròn, trên treo chiếc kéo và mảnh lá hình bàn tay gọi là « bàn tay ma ».
Người quạt ma đội khăn bên trong và mũ ở ngoài. Các góc mũ có treo những dây tua, rủ thấp, trên đó treo các mảnh vải nhiều màu, những hạt cườm… Bộ tang phục này đẹp tới mức mà phương ngôn Mường có câu : « diện như nàng dâu đi quạt ». Đây cũng là hình ảnh tương phản với bộ tang phục bình thường, tuyền màu trắng, không trang trí loè loẹt, may lộn trái ra ngoài.
Tang phục của nam giới gồm: quần, áo cánh ngắn, áo chùng, khăn bịt đầu, bằng vải bông màu trắng, may kiểu lộn ra ngoài để mặc. Các con trai của người quá cố phải mặc đầy đủ bộ tang phục, riêng con trai cả phải đeo thêm vỏ dao. Những người khác chỉ phải mặc một vài bộ phận, như em trai, con rể, cháu trai chỉ phải mặc quần và chít khăn tang. Những người họ hàng thân thích tới dự cũng được phát khăn tang để đội. Xưa kia, bố mẹ chết, con trai, con gái phải cắt tóc, nay chỉ cắt một tí mang tính tượng trưng, sau một trăm ngày mới được sửa tóc và nhuộm màu tang phục. Trong đám tang, thầy mo giữ vai trò rất quan trọng và có trang phục riêng. Thày mo mặc áo chùng xanh, may kiểu cài cúc bên nách phải, gấu áo phủ gót, gấu đáp thêm vải màu đỏ phía trong, tay rộng, áo may rộng, không xẻ tà, đội mũ xanh hình chóp. Còn có loại mũ khung cứng, phía trước và sau mũ trang trí hình hai nửa vòng tròn ghép lại. Tay trái cầm quạt lông hay quạt giấy vẽ hình rồng, tay phải cầm chuông nhỏ, lắc điểm nhịp cho bài mo đưa hồn. Khi đưa ma, thầy mo đi trước tay cầm kiếm, dẫn hồn người quá cố đi tới huyệt, chỉ cho hồn ở đó, rồi cởi tang phục, quay về bản theo con đường khác.
Trong xã hội Mường xưa phân thành hai giai cấp : dân thường và quý tộc nhà lang. Trang phục quý tộc, ngoài chất liệu vải may mặc là loại đắt tiền, thường là vải lụa, thậm chí họ mua các đồ dệt lụa, the, gấm của người Kinh. Cùng với các mặt hàng đắt tiền, còn có bàn tay các nàng may cắt khéo léo, những mô típ hoa văn tinh xảo, làm tôn lên bộ trang phục của các Nàng, như là đại diện cho vẻ đẹp của nữ phục dân tộc. Đấy là chưa kể các đồ trang sức quý hiếm mà không phải ai cũng có được.
Ngoài ra cũng có một số khác biệt giữa trang phục quý tộc và thường dân trong kiểu cách cắt may, trong sử dụng màu sắc. Thí dụ, ở Mường Bi, áo pằn của nhà Lang quý tộc may kiểu khoét cổ tròn, hai vạt trước may rộng, có hai túi ở hai vạt trước, màu áo cũng đa dạng, như xanh, hồng, vàng nhạt, đen mỡ…, rất ít khi dùng màu nâu. Áo chùng của các Nàng được coi là đẹp và sang là áo lụa màu đen mượt hay màu xanh sĩ lâm. Vào những ngày trời se lạnh, các Nàng mặc áo yếm màu tím, áo cánh hồng, phủ ngoài là áo chùng màu xanh. Các Nàng cũng thường mặc váy lụa màu đen, thắt lưng lụa màu xanh hay vàng, trên thắt lưng đeo dây xà tích vòng bạc chạm trổ tinh vi, ngón tay đeo nhẫn bạc hình bầu dục. Các Mế còn đeo thêm vòng tay bằng bạc.
Các quan chức nhà Lang ăn mặc giống quan chức người Kinh, mặc áo dài the, áo lương, đội khăn xếp, ra đường che ô đen.
2.2.3.3. Ẩm thực
Bữa ăn ở người Mường tính chất cơ bản cũng vẫn là chất bột nhưng người Mường có tập quán làm chín hạt gạo bằng đồ hấp, xôi đồ, cơm tẻ đồ, đồ xong dỡ ra rá tải đều cho khỏi nát trước khi ăn. Hạt gạo đồ chín ăn đậm đà hơn hạt gạo nấu chín bằng nước. Đây là nếp sống cũ của cư dân nông nghiệp lúa nước. Vì ăn hấp nên gia đình người Mường nào cũng có cái ninh( vừa nồi vừa chõ) đúc bằng đồng, cái ninh như là chủ bếp ở người Mường.
Một số món ăn truyền thống của người Mường như: Ong làm tổ dưới đất, thịt gà nấu măng chua, cá suối ốp lá lồm, chả cuốn lá bưởi, ếch đồ, rượu sắn khô đồ… Với mỗi loại thịt lại có một cách thức riêng biệt. Nếu là thịt trâu thì được luộc rồi thái thành miếng, sau đó bóp với cơm nguội để làm dưa, gọi là nhúc tưa. Với thịt lợn thì sau khi cắt tiết song thì họ thường thui rồi mới cạo lông, họ có nhiều cách bảo quản thịt khác nhau và một trong những cách đó là cho thính vào thịt sau khi bóp muối rồi phủ lên một lượt cơm nóng, sau đậy kính bằng lá dong, úp miệng chính vào bồ gio, để hút ráo nước. Đây là cách l àm món thịt chua đặc sắc của người Mường. Rau hàng ngày được hái từ trong rừng và vườn nhà. Bằng kinh nghiệm tích luỹ từ bao đời này, họ biết được hàng chục loại rau ngon nhất là rau khắng cùng với các loại măng.
Một trong các món được người Mường dùng để đãi khách quý đó là thịt gà nấu với măng chua. Đó là thịt gà chặt vừa phải bóp với măng chua và thêm một ít bột hạt giổi nướng khô giã nhỏ, sau đó cho vào chảo cùng với một chút mỡ và đảo cho săn lại, ngấm nước măng chua. Sau đó đổ thêm nước vào đun sôi. Khi ăn nước canh được ra từng bát riềng cho mọi người còn thịt gà và măng thì múc ra bát chung.
Trong ngày tết hai món ăn không thể thiếu được chế biến từ thịt lợn đó là đĩa (quếch) đây là một trong những món bày trên bàn thờ tổ tiên. Quếch là một dĩa bao gồm: khâu đuôi, đoạn chân giò còn móng, đầu mũi, và lưỡi. và món thứ hai là (nách). Nách bao gồm: lưỡi, tai, mũi được luộc chín thái chỉ rồi trộn với óc luộc dầm nhuyễn, phía trên có để thêm một số lát gừng được thái nhỏ và lá hẹ. Đây là món được người già ưa thích, bữa cỗ tết mà thiếu món này thì chưa được gọi là cỗ sang.
Trong nhà sàn người Mường, chỗ để chạn bát không thể thiếu cái hũ to ngâm măng chua ăn quanh năm. Măng có nhiều loại: măng tre, măng mai, măng bương, măng nứa, măng lèng eng. Mỗi loại măng có vị ngon riêng. Món ăn thú vị nhất ở người Mường là mòn măng bương thêm gừng sả với cá chép cắt khúc to trộn gói trong ba lần lá chuối, đem đồ kĩ ăn với xôi nếp cái. Gắn liền với măng còn có món thịt gà nấu măng chua, khách đến nhà người Mường quý nhất là món này. Người Mường có câu:
“Cơm nếp, cơm chăm trên nương trên ná
Cá nhỏ, cá to trong ao dưới suối
Săn đuổi trong rừng được thú được chim
Đi hái đi tìm được rau được quả.”
Những câu này phản ánh cơ cấu bữa ăn ở người Mường là họ vừa sản xuất được từ đồng ruộng, nương rẫy, vừa thu lượm, săn bắn được trong rừng, dưới sông dưới suối, vừa nuôi đựoc trong ao, trong chuồng, thành phần đủ cả cơm, rau, cá, thịt.
Tuy vậy, xã hội người Mường trước đây phân hoá đẳng cấp ngặt nghèo, áp bức bóc lột diễn ra nặng nề cho nên không phải bất cứ nhà nào cũng có bữa ăn phong phú như trên. Vì vậy, người Mường trước đây cũng lưu truyền câu:
“Tháng sáu gặp nhau ở hố củ mài”
Dù giàu hay nghèo người Mường không thể thiếu bánh chưng trên bàn thờ. Có điều bánh chưng nhỏ, dài độ gang tay, gọi là bánh chưng ống chỉ 1 hoặc 2 lạng gạo. Tuy bánh nhỏ nhưng số lượng khá nhiều, nhà nghèo ít cũng tren dưới 200 chiếc, nhà khá giả gói đến cả ngàn chiếc. Vì thế phong tục người Mường có lệ bản, ngày gói bánh trước ngày Tết của gia đình mình từ 2 đến 3 ngày. Người trong bản, trong họ hẹn lịch nhau, tập trung gói hết từ nhà này đến nhà khác.
Ngày gói bánh tết là ngay hội bận rộn nhung cũng rất vui của chị em, kể cả những chàng rể, cô dâu tương lai cũng đều có mặt, là nơi hội tụ trai, gái đến tuổi cập kê, họ Đang ( hát ):
Bánh Tết của anh
Ngày xuân của em
Hẹn ngày đôi ta
Bánh chưng còn là quà của chủ nhà phát vốn cho nhiều người, nhất là trẻ em đến chúc Tết ( không phát vốn bằng tiền ), nếu là người già và bề trên thì bên trong còn kèm theo gói thịt băm.
Món cá chua
Ngày xửa ngày xưa, người Mường bấm đốt ngón tay để xem ngày, chuẩn bị các món ăn cho ngày tết thật chu đáo, trong đó nhất thiết nhà nào cũng phải có món cá ướp chua
Ðể có một “Pe cá Tua”- hũ cá chua không phải dễ. Con trai đi quăng chài vào đêm, đem cá về mổ bụng moi ruột, cắt khúc nhỏ bằng hai ngón tay, bỏ đầu đuôi, ướp muối, đem xôi, sau đó thêm một ít cơm nguội, ít men rượu, trộn đều rồi cho vào hũ, được 15 ngày thì bỏ thính vào.
Cá ướp chua để từ 3 đến 6 tháng, bày lên mâm ăn ngay. Cá ướp chua gói vào lá thầu dầu (bánh tẻ) rồi nướng. Cá ướp chua nấu canh có thêm gia vị: Lá sả, gừng, ớt, mắc khén. Cá ướp chua làm bánh và đồ cơm (vung chảo xôi bằng gỗ).
Người Mường có câu: “ăn một miếng cá chua, sáng mắt cả năm” mùi thơm của cá chua nướng, hơi bốc lên của chõ xôi bánh khêu gợi mời gọi mọi nhà đón xuân về.
Không ai biết chắc là người Mường biết làm rượu cần( Rão Tỏng ) từ bao giờ, chỉ biết rằng nó là thức uống có men dược dùng trong đời sống của họ từ lâu đời, từ trước khi họ biết chưng cất thứ mạnh đóng vào chai, vào nậm mà tiếng Mường gọi là Rão Thiêu ( Thiêu có nghĩa là chưng cất ).
Rượu cần dùng để uống trong gia đình, uống vui chơi, tiếp khách, uống trong đám cưới, mừng nhà mới, thờ trong lễ tang, lễ tạ mộ và một số nghi lễ khác.
Rượu cần được làm như sau. Đầu tiên phải nói đến men, nguyên liệu làm men gồm: vỏ cây mun giã nhỏ, củ riềng, củ gừng, một ít ớt và lá ổi giã vắt lấy nước, tất cả trộn vào bột gạo nếp , nặn thành bánh nhỏ, hình cầu bằng quả ổi nhỏ, ủ vào rơm để lên gác bếp khoảng 3 đêm thì lên men trắng thơm hăng, tiếng Mường gọi là “Đao dẫl tà”. Sau đó, gỡ men ra hong trên gác bếp khoảng 10 ngày, men khô bắt đầu dùng được. Các chất liệu như vỏ cây mun, gừng, riềng, ớt là để tạo nồng độ, còn lá ổi là để mùi thơm và góp phàn chống đau bụng do uống rượu ( nước lã đổ dầy vò cái rượu, hai thành phần hòa với nhau. Cái rượu gặp nước lã sẽ chiết xuất ra thứ rượu có nồng độ nhẹ và có vị ngọt, mùi thơm ). Rượu mạnh hay nhẹ là do gia giảm chất liệu từ khâu làm men. Người làm men giỏi làm hẳn hai loại men: một loại cho nồng độ cao để làm rượu chưng cất, một loại cho nồng độ nhẹ, êm để rượu cần. trường hợp men không tốt hoặc do thời tiết quá xấu ( lạnh ) thì rượu sẽ bị hỏng ( không lên men ) hoặc bị kém phẩm chất, kém ngọt, kém thơm hoặc có mùi thiu tiếng Mường gọi là “rão xổm tà”. Người ta hay thuê làm men, hình thức thuê là đưa toàn bộ nguyên liệu cho người làm thuê và trả công cho họ bằng men hoặc bằng gạo. Gia đình nào có nhiều tín nhiệm, họ làm men bán ra thị trường nhưng người ta chỉ mua về làm rượu chưng cất, còn rượu cần người ta phải thuê làm men mới chắc chắn.
Nguyên liệu làm rượu thường dùng rượu nếp mà thơm ngon nhất là gạo nếp cẩm, lại được “nước hơn”, tức là khi uống thì lâu nhạt hơn các loại gạo khác. Nếu dùng gạo tẻ thì rượu có phần đắng nhẹ mà lại không thơm. Nay người ta còn dùng cả sắn tươi, sắn khô, ngô để làm rượu (nhưng phẩm chất kém hơn gạo). Gạo làm rượu là gạo xay chứ không giã, còn nguyên chất vốn có của nó, khi đồ lên và thời gian ủ trong vò rượu không bị nát, khi hút không bị tắc cần ( tăt khoe ).Gạo ngâm trong nước lã một đêm cho mềm rồi trộn với trấu xay (trấu gạo nếp rửa sạch) đem đồ kĩ, bắc xuống, gỡ ra, để hơi âm ấm, giã men nhỏ, trộn đều, ủ vào nong hoặc thúng có lót lá ráy. Cho vào hũ nén hơi chặt, trên lớp cái rượu đậy 2-3 lớp chuối xanh, hơ lửa cho mềm. Trên miệng hũ bịt bằng lá chuối. Ngoài cùng gắn một lớp tro ướt cho thật kín, ủ rượu trong hũ càng lâu càng tốt. Rượu ngấu kỹ phải ủ từ 3 tháng trở lên. Có kho ủ 3 năm mới đem ra uống. Những vò rượu như vậy thường khoảng 6-7 tháng phải thay cái 1 lần., chỉ để lại nước cốt, còn cái đều chiết xuất thành nước rượu. Rượu cần ủ từ 3 năm trở lên là loại ngon nhất. Nước rượu khi còn non là màu vàng đục, giờ đã chuyển sang màu nâu sẫm, hơi sánh, nhấp một ít đã có cảm giác dính môi. Rượu có phẩm chất đó hiếm quý, chỉ khi nào có khách đặc biệt, thật vui họ mới mang ra uống.
Vò ủ rượu:
Muốn có rượu ngon phải ủ vào vò kín. Nếu vò bằng sành mà nung không kĩ, vò bị hở để rượu bị thẩm thấu gây mốc meo ở ngoài thì rượu không giữ được lâu, nước cốt sẽ cạn dần. Vò đựng rượu chủ yếu bằng sành, có loại tráng men bên ngoài, có loại trang cả bên trong và bên ngoài- là loại vò kín nhất, ủ được lâu nhất.
Vò ủ rượu có nhiều cỡ, cỡ nhỏ nhất có thể chứa trong đó lượng cái rượu ứng với 2,5-3 kg gạo và một phần trấu trộn. Thân vò thường trang trí các vùng hoa văn lượn sóng hoặc con gà, con hươu ngồi. Cũng có khi họ ủ rượu vào chum to, khi cần uống họ vợi ra vò nhỏ cho vừa với lượng người tham gia.
Trong đời sống hàng ngày họ bảo quản, cất giữ vò rượu rất kĩ càng. Nhiều gia đình còn đan một lớp nan tre thưa để bọc bên ngoài vò rượu một cách cẩn thận. Những gia đình dân thường mà may mắn mua được vò rượu to đẹp, có khi còn bị nhà lang ép bán lại cho họ vì Lang thường tự cho mình quyền được dùng của tốt đẹp hơn người.
2.2.4. Tổ chức xã hội và gia đình
2.2.4.1. Tổ chức xã hội
Trước cách mạng tháng 8 nhìn chung trong xã hội người Mường đã hình thành 2 giai cấp chủ yếu, giai cấp bóc lột ( lang đạo) và giai cấp bị bóc lột( những người dân trong xóm trong mường hàng năm phải đi làm không công, phải biếu xén, phục dịch cho bọn lang đạo). Tuy nhiên sự phân hóa đó chưa sâu sắc trong xã hội người Việt. Trước đây, giữa các vùng, xã hội phát triển không hoàn toàn giống nhau, có vùng còn tồn tại chế độ lang đạo, có những vùng chế độ đó đã tan rã, tổ chức xã hội đã tương tự như miền xuôi. Song ngay cả vùng còn chế độ lang đao, bộ máy tổ chức và trên nhiều mặt vẫn còn có những nét khác biệt nhất định.
Trong chế độ lang đao, tính chất đẳng cấp được thể hiện khá rõ rệt. Ở Hòa Bình, các dòng họ nắm quyền thống trị lâu đời là Đinh, Quách , Bạch, Hoàng, Hà ,Xa...Trong số đó Đinh và Quách là nững dòng họ thế lực mạnh nhất. Thổ lang hay quan lang, là những người thuộc tầng lớp quý tộc trong các dòng họ kể trên. Lang đạo theo chế độ thế tập. Lang cun là con trưởng của chi trưởng, trên danh nghĩa đứng đầu mường, nhưng chủ yếu cai quản”xóm chiềng”, đây thường là xóm lớn nhất, ruộng đất nhiều. Còn con thứ hoặc con trưởng ở ngành thứ, cai quản các xóm nhỏ hơn gọi là lang xóm hay đạo. Nhìn chung, các thổ lang giữ địa vị thống trị, nắm quyền quản lý, phân phối ruộng đất trong mương, xóm. Giữa lang và dân có sự cách biệt nghiêm nhặt. Dân dù tài giỏi hay có khả năng gì chăng nữa cũng không thể trở thành lang. Dân không được phép lấy con gái nhà lang. Ngược lại lang vẫn được lấy con gái dân, nhưng đó chỉ là vợ lẽ dù cưới trước.Vợ cả phải là người thuộc dòng họ nhà lang. Trong trường hợp lang chết không có con trai,có khi vợ được quyền cai quản dân trong vùng. Một nhà lang tuyệt tự, dân phải đi rước một dòng lang khác về thay thế, gọi là lang bảo hộ.
Nhà lang hay dùng trống đồng và vạc đồng tượng trưng cho uy thế của mình. Những lang cun cai quản nhiều đất đai, nhiều dân, có nhiều của cải đồng thời lại nắm nhiều bộ máy trong chính quyền thực dân phong kiến là những kẻ có thế lực.
Thổ lang có một số người giúp việc( gọi là ậu, có nơi gọi là cai) để điều hành các công việc trong mường trong xóm. Có đến hàng chục chức ậu khác nhau.Giữa các khu vực có sự khác nhau về số lượng và tên gọi các ậu. Song nhìn chung họ có một số nhiệm vụ giống nhau như lo thu thóc thu hiện vật, bắt phu bắt phiên, lo việc cúng bái, cưới xin, ma chay, đốc thúc dân đến làm xâu, làm nõ và nhiều công việc khác. Ta có thể tạm chia các ậu ra mấy loại sau: một loại lo việc trị an, một loại lo việc quản lý ruộng đất, tài sản của nhà lang, của mường, một loại bắt phu phen, thu thóc, thu của biếu xén do các nơi nộp cho nhà lang. Họ được hưởng phần ruộng, ít nhiều tùy theo chức vụ của mình, Ậu không phải là chức vụ cha truyền con nối, do lang cất nhắc hoặc loại bỏ. Họ đều xuất thân từ tầng lớp bình dân.
Dân là tầng lớp bị trị, bộ phận đông đảo nhất là nông dân. Họ được nhận một phần ruộng để sinh sống nhưng có nghĩa vụ phải đóng góp, phu phen, tạp dịch, biếu xén...cho nhà lang. Đây là lực lượng sản xuất chính trong xã hội Mường. Ngoài ra, còn một bộ phận không nhận ruộng và cũng không có ruộng tư phải sống bằng nương rẫy. Tuy không phải đóng góp phu phen nhiều nhưng cuộc sống họ gặp nhiều khó khăn.
Ngoài ra trong nhà lang còn có một số ít người thấp kém thân phận, địa vị tôi đòi. Phần nhiều là những người bị phạt và không lo đủ tiền chuộc, người không trả được nợ hoặc quá nghèo túng phải đi ở phục dịch,hầu hạ trong gia đình nhà lang.
2.2.4.2. Tổ chức gia đình
Gia đình người Mường mang tính phụ quyền rất rõ,quyền lực của người đàn ông được xác lập vững chắc. Hình thức phổ biến là tiểu gia đình, hiếm có gia đình ba bốn thế hệ ở cùng nhau. Quyền con trưởng được coi trọng, con trai trưởng được nối nghiệp cha. Con trai trong gia đình thường được số gia sản nhiều hơn.
Địa vị người phụ nữ thấp kém, họ không được tham gia các cuộc họp làng xóm, không được hưởng quyền thừa kế. Sự bất bình đẳng giới tương đối đậm nét. Tuy nhiên khi chưa lấy chồng người con gái phần nào được tự do trong sinh hoạt, được quyền làm một mảnh nương riêng, thu hoa lợi sử dụng theo ý mình. Mặt khác, trong sản xuất người phụ nữ đóng vai trò đáng kể, là những lao động chính, nên trong gia đình họ cũng tham gia bàn bạc công việc. Nhiều việc người đàn ông cũng phải hỏi ý kiến phụ nữ.
2.2.5. Văn hoá phi vật thể
2.2.5.1. Tôn giáo và tín ngưỡng:
Trước Cách mạng tháng tám, một số người, vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng của lang đạo nên đã dựa vào thế lực của cha cố. Tùy theo công giáo, song lòng tin của họ chưa sâu sắc lắm, vẫn mời thầy mo về cúng ma, vẫn thờ cúng tổ tiên. Sau cách mạng,ảnh hưởng cua công giáo nhạt dần. Vùng Mường trước kia cũng có chùa thờ phát(còn gọi là thờ bụt) nhưng không có sư sãi,không cầu kinh niệm phật, việc cúng bái đều do ông từ đảm nhiệm.Có nơi cũng gọi là chùa, song lại thờ bà chúa rừng.
Trong các gia đình người Mường đều có thờ cúng tổ tiên, họ tin rằng người chết sang thế giới bên kia vẫn có một cuộc sống tương tự ở trần gian. Các làng xóm phần lớn có đình, thờ thành hoàng. Thành hoàng làng thường được coi là người có công khai phá ruộng nương, lập làng lập xóm. Nhiều vùng thành hoàng lại là tổ tiên nhà lang.
Nhiều nơi đồng bào thờ Tản Viên, nhất là những vùng gần núi Ba Vì.Từng vùng cách gọi có khác nhau như: Bùa Tản, Thánh Đản, Bua Ông...Có nơi, Tản Viên còn được thờ trong gia đình. Sự tích Tản Viên ở nhiều vùng tuy có khác nhau nhưng đại thể cũng gần giống sự tích Tản Viên sơn thánh của Người Việt. Theo quan niệm dân gian, mỗi vùng có một thổ công trông nom. Thổ công được thờ ở miếu của làng xóm. Từng gia đình cũng có thờ Thổ công trong một miếu nhỏ ngoài vườn.
Nhiều dòng họ kiêng kị, không được ăn, không được giết hại một số thú vật hoặc một số cây nhất định, chẳng hạn họ Quách ở Lạc Sơn kiêng thịt chó,họ Đinh ở Cao Phong, Kỳ Sơn kiêng thịt khỉ, có họ kiêng gà nước....Sự kiêng kị đó thường được gắn liền với một truyền thuyết để giải thích.
Trong dân gian người ta tin cũng có một số người co ma chài, ma ếm, có thể dùng phương thuật, thần chú để hãm hại người khác. Đây là biểu hiện của loại ma thuật làm hại.
Ngoài ra, trước đây đồng bào tin có rất nhiều loại ma như ma rừng, ma núi, ma sông...những thứ này đều có tác động, ảnh hưởng đến con người, nên mỗi khi không yên ổn phải cầu cúng chúng. Người Mường có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như lễ hạ điền, thượng điền...
Trước cách mạng do đời sống kinh tế văn hóa thấp kém, con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên mê tín dị đoan khá nặng nề.
2.2.5.2. Một số lễ hội của người Mường
Lễ hội là một trong những nét văn hóa tiêu biểu của người Mường. Có nhiều lễ hội diễn ra trong năm, các lễ hội tiêu biểu thường tập trung vào tháng Giêng, là khi người Mường chuẩn bị cho một vụ mùa, một thời gian lao động mới.
Lễ hội khai hạ
- Lễ khai hạ là một lễ hội lớn của người Mường, được tổ chức vào ngày 7 tháng giêng âm lịch. Là lễ hội mở màn của một năm. Trong lễ hội này, tổ chức với ý nghĩa tổng kết một năm sản xuất mở đầu công việc cho năm mới. Lễ hội còn là dịp để người dân tỏ lòng tôn kính các vị thần linh; là nơi để con người cầu mong cho xóm làng yên vui, mùa màng bội thu, vạn vật.
Hội Pôồn Pôông (tục chơi hoa của người Mường, Thanh Hóa)
- Hội Pôồn Pôông là một sinh hoạt văn hóa dân gian, vừa mang tính chất lễ nghi, thần linh vừa mang tính chất giao duyên trai gái, vừa cầu phúc, cầu tài… Pôồn Pôông tiếng Mường nghĩa là “chơi hoa”. Vào tháng ba, khi mùa hoa bông trăng – loài hoa tượng trưng cho tình yêu, hạnh phúc của con người bừng nở, đó là lúc diễn ra hội Pôồn Pôông.
- Sự tích Pôồn Pôông: có nhiều sự tích như truyền thuyết cây hoa trong Pôồn Pôông đợc gắn liền với truyện bi tình sử của nàng Ơm với chàng Bồng Hương. Hai người yêu nhau tha thiết như đôi chim păng poóp, nhưng bố mẹ nàng ờm cậy giàu sang phú quý chia cắt tình duyên hai người. Chàng Bồng Hương nhà nghèo khốn khó, cha mẹ nàng Ờm không những không gả con gái cho chàng trai mà còn đánh đập nàng Ờm tàn nhẫn: “Bốn mươi roi cây trảy, bảy mươi roi cây lèn en” và đuổi khỏi nhà.
Đau đớn, nàng Ờm lần theo con suối và gặp chàng Bồng Hương. Hai người rủ nhau vào rừng cùng ăn lá ngón để cùng chết bên nhau.
Chàng Bồng Hương lấy chiếc khăn trắng lau vết máu cho nàng ờm, rồi vắt khăn lên cây chạng bạng. Cây chạng bạng nâng niu chiếc khăn và biến chiếc khăn thành dây hoa bông trắng quấn quýt cây chạng bạng.
Từ đó hoa bông trắng nở vào tháng ba, gặp ma thì hoa có màu trắng, gặp nắng thì hoa biến thành màu đỏ. Vì vậy người Mường chọn cây hoa chạng bạng có hoa bông trắng nở để mở hội “Pôồn Pôông” hoặc làm hoa bằng giấy trắng, giấy hồng cắm lên cây chạng bạng để chuẩn bị cho hội “Pôồn Pôông”.
Vào mùa lễ hội, chung quanh cây hoa nhiều màu sắc, người hát múa, người đứng xem kín cả một vùng, những lời hát trữ tình trong sáng ngân lên quyện với chín trò diễn: Xin vào chơi hoa, gieo bông, trồng hoa… như hút hồn người tham gia lễ hội. Pôồn Pôông là hình thức diễn xướng dân gian, giao lưu, giao tình của trai gái dân tộc Mường trong lễ hội ngày xuân.
Lễ hội Pôồn Pôông phản ánh lòng lạc quan, yêu đời, khát vọng vươn lên trong cuộc sống của người dân lao động.
Hội séc bùa
Hội chúc Séc Bùa là một sinh hoạt văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Mường nói chung, người Mường ở Thanh Hóa nói riêng.
Séc Bùa (có nơi còn gọi là Sắc Bùa) là một sinh hoạt văn hóa ở đỉnh cao về nghệ thuật diễn tấu âm nhạc cồng chiêng, về kết cấu của tích trò, về ngôn ngữ văn học và về sự gắn kết của tập thể cộng đồng trong mường, bản.
Mỗi năm cứ đến tết nguyên đán từ ngày 27 hoặc 28 âm lịch, các ông có chức sắc trong Mường, trong bản, các thành viên là những người giỏi chơi nhạc cồng chiêng tập trung lại để vui hội Séc Bùa ngày xuân. Hội Séc Bùa được tổ chức và biên chế thành phường bùa, hội bùa, dàn cồng, hội cồng, phường cồng.
Hội chúc Séc Bùa chia làm 4 phần chính (có thể gọi là 4 chương)
* Phần I: Bùa đi đường (phường bùa diễn tấu ở ngoài đường)
* Phần II: khóa rác (phường bùa diễn tấu xin phép chủ nhà mở cổng)
* Phần III: Lên nhà sàn (phường bùa diễn tấu xin phép chủ nhà lên nhà sàn)
* Phần IV: Kết thúc hội
Sau khi đi hết các nhà, đoàn tập trung tại nhà chủ phường bùa và làm lễ cúng, đợc nhiều lễ thì năm đó làm ăn phát đạt còn không ngược lại.
Hội Séc Bùa là hội đặc trưng của người Mường Thanh Hóa và người Mường nói chung, toàn bộ lễ hội là đám rước đi chúc tết các gia đình, cầu cho làm ăn phát đạt, gia đình khá giả, yên ấm, con cái đề huề. Thể hiện sự gắn kết sâu sắc của cộng đồng người Mường. Đây là nét đẹp văn hóa cần gìn giữ và phát huy.
Người Mường có nhiều nghi lễ liên quan đến nông nghiệp như lễ hạ điền, lễ thượng điền, lễ mừng cơm mới…
- Lễ cơm mới: Sau một mùa thu hoạch, trước khi ăn cơm gạo mới người Mường Bi có tục làm tết ăn cơm mới cúng tổ tiên. Người Mường không cúng giỗ cha mẹ, việc tưởng nhớ công sinh thành của cha mẹ đều làm kết hợp vào các ngày làm vía, ngày lễ, ngày tết. Lễ cơm mới do riêng từng gia đình tổ chức, ngoài việc mời mo đến cúng gia đình không muốn mời ai khác. Xa kia bà con ít làm vụ chiêm phần đa các giống lúa cây trồng vào vụ mùa. Lễ cơm mới tổ chức vào tháng 10. Trước lúc dọn cỗ ăn mừng sản phẩm nông nghiệp do mình làm ra, họ mang ít thức ăn cho con chó, con trâu, ngầm ý: Các vật nuôi trong nhà cùng chia vui với người. Ở xã Phong Phú khu vực chợ Lồ, vào dịp làm tết cơm mới, nhà lang tổ chức khá to có làm bánh chưng con và bắt cá ở Pai ải về cúng vía lúa.
Một số nhà trong vùng có tục chọn vài ba cây lúa nương dài cả rễ lẫn bông treo cạnh bếp để giữ vía lúa.
2.2.5.3. Văn học nghệ thuật và âm nhạc:
Văn học dân gian:
Người Mường có một nền văn học dân gian khá phong phú.Các truyện thơ : nàng Nga hai mối, Nàng Ơm chàng Bồng Hương, Con côi...nói về tình yêu nam nữ, lên án nạn ép duyên ở chế độ cũ. Ca dao tục ngữ Mường phản ánh cuộc đấu tranh bất khuất của con người với thiên nhiên, của nhân dân lao động với bọn thống trị, mặt khác ca ngợi lao động, tình yêu...Người Mường hát trong khi lao động sản xuất, trong ngày hội, ngày lễ, lúc gặp bạn bè, lúc tỏ tình, thậm chí cả lúc thờ cúng, ma chay. Hát Séc bùa( còn gọi là Sắc bùa hay khóa rác) là loại được nhiều người ưa chuộng. Người ta tổ chức thành từng tốp từ năm, bảy đến hai chục người( gọi là phường bùa), mỗi người xách một chiếc cồng, to nhỏ khác nhau nên đây có thể coi như một dàn nhạc cồng. Cứ hát xong một bài, phường bùa lại đánh một đoạn nhạc cồng theo những giai điệu nhất định. Đồng bào thường hát xéc bùa trong những dịp lễ tết, hội hè, cưới xin...Phường bùa đi hết nhà này sang nhà khác, vừa hát vừa đánh cồng. Nhà chủ thường mời họ ăn uống hoặc tặng gạo, tiền.
Thường( có nơi gọi là rằng thường hoặc xướng) là loại dân ca ca ngợi công việc làm ăn, phản ánh một phần phong tục tốt đẹp của dân tộc.
Bộ mẹng hoặc lệ giọng là hình thức hát giao duyên diễn tả tâm sự, tình yêu của tuổi trẻ.
Hát vi, dúm(có nơi gọi là hát bí) cũng là loại dân ca tương đối phổ biến. Nó được thể hiện dưới dạng đối đáp và được hát nhiều trong khi đi chợ, lúc gặp trong trong khi đi đường hoặc trong lao động sản xuất...Nội dung chủ yếu là thể hiện tình yêu, cũng như phản ánh các vấn đề xã hội khác.
Bên cạnh các loại kể trên,người Mường còn có một số loại hát khác nữa như ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đổ, hát trẻ con chơi.
Truyền thuyết người Mường khá phong phú, nhiều ít đều có những sự kiện xã hội, lịch sử qua các thời kì. Nhân vật chính trong các truyện là người mồ côi, nghèo khổ...
Trong kho tàng văn học dân gian cần kể đến các loại lễ ca. Đó là những bài mo, khấn do ông mo, ông trượng đọc và hát trong đám tang, khi cúng ma, cầu vía. Bài mo” Đẻ đất đẻ nước” là một tài liệu văn học dân gian có giá trị.
2.2.6. Phong tục tập quán
2.2.6.1. Hôn nhân.
Hôn nhân của người Mường là hình thái hôn nhân một vợ, một chồng và cư trú bên nhà chồng. Do tính chất phụ quyền của gia đình kiểu gia trưởng nên việc hôn nhân của con cái chủ yếu do gia đình quyết định.Ngày nay, có thoải mái hơn, trai gái tự do yêu đương tìm hiểu, ưng ý nhau thì báo để gia đình chuẩn bị cưới.
- Hôn nhân đó mang tính chất mua bán, nhà trai phải đền bù cho nhà gái một món tiền và một số hiện vật nhất định. Hôn nhân của người Mường có hai hình thức: cưới dâu và lấy rể, cưới dâu là hình thức phổ biến hơn. Tục cưới xin gồm nhiều giai đoạn và mỗi vùng có một tục lệ riêng, nhưng đại thể có một số bước như: lễ chạm ngõ, ăn hỏi, cưới xin và đón dâu.
*Lễ ướm hỏi
Khi đôi trai gái đó tâm đầu ý hợp, nhà trai tìm một người khéo ăn, khéo nói được nhà gái quý trọng làm ông mối, thay mặt gia đình nhà trai sang hỏi ý kiến bên nhà gái. Ông mối sang nhà gái để dạm hỏi vào buổi tối ngày cây trong. Lần đầu, ông không mang gì mà chỉ sang đặt vấn đề, nhà gái chưa nói gì, chỉ cảm ơn và khất lại để bàn. Mấy ngày hôm sau, ông mới nhắc lại chuyện hôm trước. Nếu đồng ý gả con gái, chủ nhà sẽ nói “ Hôm nào đó, bác bác có ấm chè, chai rượu, tôi với bác nói với nhau làm tin, tôi dò hỏi cháu, nghe chừng có khả năng cháu ưng sang bên nhà bác”. Ông mối về báo tin với nhà trai. Tiếp đó, ông mang hai chai rượu và một đấu chè sang bên nhà gái.
*Lễ bỏ trầu (Ti nòm bánh)
Vào ngày lành tháng tốt, ông mối dẫn đầu đoàn nhà trai đến nhà gái, bỏ cơi trầu ra ăn hỏi. Lễ vật gồm một con lợn 25kg, hai gánh gạo 50kg, 120 cáI bánh trưng, 5 chai rượu, 1 buồng cau, 100 lá trầu. Đoàn trai đưa đồ sang nhà gái không có chú rể. Sau đó nhà trai mới thưa chuyện, nhà trai lo chuẩn bị đám cưới.
*Lễ cưới( Li châu)
Đoàn nhà trai do ông mối dẫn đầu mang sang nhà gái 1 tạ gạo, 2 con lợn, 10 lít rượu, 100 lá trâù, vài cây mía, chú rể gùi một nồi xôi, trên để 2 con gà thiến đó luộc, hai chàng trai đi hai bên, cũng gùi hai nồi xôi. Đoàn nhà trai đến nhà gái phải đúng lúc trâu về chuồng( khoảng 17h).
Rửa chân xong, từng người nhà trai lên nhà gái ngôi theo thứ bậc. Sau đó, ông mối giao cho nhà gái toàn bộ đồ lễ của nhà trai…Tiếp đó, họ có một tuần rượu.
Cụm xong, khách ra về, riêng chàng rể và hai phù rể còn phải ở lại nhà gái để tiếp khách. Tối hôm đó nhà gái làm một tiệc nhỏ tiếp rể. Sáng hôm sau chuẩn bị quà cáp để cho rể về nhà.
Hôn nhân của người Mường Bi quy định: một vài năm sau mới được đón dâu, thời gian đó, dịp lễ tết chàng rể phải sắm lễ mang đến cho nhà gái. Nhà gái có việc gì sai gọi chàng rể đến giúp.
*Lễ đón dâu
- Một vài năm sau, đến ngày đó định, nhà trai mang lễ vật sang nhà gái, chủ yếu là tiền, vải tự dệt hay váy áo may sẵn. Khi rước dâu về dù mưa hay nắng cô dâu vẫn phải đội nón và mang theo hàng chục cái gối để biếu anh em bên chồng.
- Khấn tổ tiên xong họ có cuộc vui văn nghệ kéo dài suốt đêm. Cô dâu và đoàn đưa dâu ở lại ba ngày, sau đó nhà trai mới làm lễ để cô dâu trở về với bố mẹ đẻ. Đón dâu về, trai gái chưa được chung chăn gối mà phải đợi hàng năm, khi nào cô dâu đó quen nết ăn ở nhà chồng, thì nhà trai chọn một bà phúc hậu, đông con, chọn ngày lành tháng tốt đến trải chiếu, căng màn cho đôi vợ chồng mới.
2.2.6.2. Sinh đẻ.
Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ. Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi bào tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết đến nhà cùng nhau chờ đợi. Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc dui trên mái nhà. Nếu là con trai thì dùng dao nứa trên mái nhà trước,nếu là con gái thì dùng dao nứa trên mái nhà sau. Cuống rốn của các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng như thế lớn lên con cái trong gia đình sẽ thương yêu nhau.
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng mọi điều xấu hại đến mẹ con. Đẻ được 3_7 ngày thường có nhiều anh em, bà con đến thăm hỏi tặng quà, Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền.
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chốn được bênh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (7 đến 10 ngày) nhất là 3 ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa.Trẻ sơ sinh nếu là trai thì âu yếm gọi là lọ mạ (thúc giống),nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc(rau cáp). Thường thì trẻ một tuổi mới được đặt tên gọi chính thức.
2.2.6.3. Tang ma
Khi trong nhà có một người sắp tắt thở, con cháu tổ chức một buổi lễ. Buổi lễ này gọi là MU THỐ hoặc KE. Theo thần thoại Mường thì có một nhân vật tên là KE.Theo ông Bùi Thiện thì KE, là tên một vị thần có tài chữa bệnh. Đó nhiều lần KE lấy được thuốc từ cây Đa trường sinh trên mặt trăng đem xuống chữa sống lại người tắt thở. Lễ KE là để mời thần KE xuống chữa bệnh cho người sắp chết. Bệnh của người này nặng đến nỗi chỉ có thay số( Mu Thố) thì may ra mới sống được.
Khi người ốm tắt thở, cả họ phải đứng ra cùng nhau lo mọi việc tang tế. Tang lễ Mường có vai trò tư tưởng quan trọng nhất là khẳng định lòng tin của con cháu đối với tổ tiên và khẳng định thần thoại về các tổ tiên đó nên mọi người cam chịu tốn kém, chịu phiền phức. Cả họ, cả mường phải hợp sức để thể hiện những thần thoại nhân cách hóa về bản mường. Những thần thoại gắn liền với núi, sông, cây đa, bến nước, dốc, núi, rừng cây… Tất cả như muốn hồi sinh, sống động trong đám tang. Mỗi vách đá, mỗi khe núi, mỗi hồ nước, đều gắn với thần thoại này hoặc thần thoại khác. Đó là những dấu ấn mạnh mẽ trong tình cảm của người sống và họ muốn chia sẻ cho những người khuất. Ai cũng muốn thế , nên buổi phân công, của diễn ra nhẹ nhàng. Con nào chịu bữa nào, chú, bác, cụ, dì chịu bữa nào, họ hàng chịu bao nhiêu vật dụng… Ai giúp bao nhiêu tiền, bao nhiêu gạo, ai giúp gà, lợn, măng, miến, ai lo bữa to, bữa nhỏ. Sau một hồi bàn bạc, trưởng họ đó có thể đọc ngay danh sách từng gia đình, từng người với từng số tiền, số hiện vật, số ngày công. Mọi người về nhà chuẩn bị sẵn. Động đến việc, mọi người có theo như đó bàn mà thực hiện.
Khi người ốm sắp tắt thở, gia chủ thỉnh thoảng dóng một hồi chiêng. Chiêng đánh thành một hồi dài, thêm một tiếng láy lại. Tiếng láy lại ấy nhằm nói rằng trong nhà này có người sắp nhắm mắt. Những hồi chiêng như vậy gọi là Chũm Cheeng.
Ngày thường, ông bà sống với con nào, cháu nào cũng được không kể là con trưởng. Lúc ốm, ông hoặc bà ốm ở nhà con nào, cháu nào cho tiện bề chăm sóc thì hơn. Lúc sắp mất, nhất thiết mọi người phải đưa về nhà con trưởng để khi nhắm mắt thì ở nhà con trưởng.
Tắm gội
Tắt thở. Mọi người lo việc tắm gội( mộc dục). Con cháu chỉ lo một nồi nước lá bưởi( chỉ một thứ lá). Lúc Tắm, đặt xác lên một tấm phản gỗ, hoặc chõng tre, xung quanh vừy mà kín lại. Người chủ tang quỳ xuống rồi cáo: “ Nay con cháu xin tắm gội, sạch bụi trần để… về với tổ tiên cho được mát mẻ”
Con gái hoặc con trai đều có thể tắm gội cho bố hoặc mẹ. Tắm gội nghĩa là lấy miếng vải dấp vào nước lá bưởi lau mắt, mình cho sạch. Trong khi một số người lấy quần áo ngắn, quần áo dài mỗi thứ bốn hoặc năm hoặc chín mười bộ lồng vào nhau. Áo lồng theo áo, quần lồng theo quần để sau khi tắm gội xong thì mặc cho thi hài.
Mặc xong quần áo, lấy lược chải đầu, lấy sợi vải buộc tóc, lấy khăn lau lại chân, hai tay, lấy dao kéo cắt móng tay, móng chân gói lại để sau này bỏ vào quan tài.
Xong những việc ấy, rước ngài đặt lên giường.
Đồng thời lúc này ông Trượng( thầy cúng) làm một lễ “ Tống trùng”. Người Mường quan niệm rằng hồn phải ra đi do có Ma ác làm hại. Vỡ vậy trước khi Nhập quan phải đuổi hết ma ác.
Nhập quan:
Các con cháu vào, đứng lại gần. Một người nói: “ Nay được giờ lành, chúng con, chúng cháu xin rước nhập quan”. Con trai bên trái, gái bên phải, đứng lui ra cho những người giúp việc làm.
Vì quan tài xưa kia vốn là một khúc gỗ tròn rỗng ruột có động tác buộc hai ngón chân cái vào nhau cho thẳng người. Xong lấy vải liệm.
Đặt được xác vào quan tài, tạm thời đóng quan tài lại, quan tài được đưa lên nhà, đặt nằm dọc hoặc ngang trước cửa sổ voóng, lấy mà quây lại. Ngoài màn còn có thêm một diềm vải hoa phủ thành diềm chữ nhật. Có thể quấn như vậy một đêm.
Động tiếng:
Chọn được giờ tốt, người ta làm lễ động tiếng. Người con trai cả lấy dao đi vào rừng tới cửa sổ voóng- cửa sổ gian chính được coi là rốn thiêng của ngôi nhà- Người này đứng nghiêm trang, mắt nhìn thẳng qua cửa sổ voóng. Mọi người đó túc trực đầy đủ. Anh ta dùng tay phải rút dao chặt mạnh 3 phát vào cửa sổ ( có người gọi là “ gõ” mạnh ). Động tác này thể hiện: Thưa các đấng linh thiêng, thế là dòng họ này đó có một người ra đi, tách khỏi dòng máu chúng tôi. Tổ tiên bắt đầu nhận lấy linh hồn này và từ đây tiếp tục giúp hồn ở thế giới mường ma.
Sau đó có động tác “ băm” của con trưởng. Mọi người mới bắt đầu được khóc. Khóc và khống. Khống là nói lên lời tiếc thương, vĩnh biệt…
Lúc này người ta đánh:
- Ba hồi cồng dài, không có tiếng láy lại.
- Ba hồi chiêng dài, không có tiếng láy lại.
- Ba hồi trống dài, không có tiếng láy lại
Túc nược , nhương ăn , tần tịch:
Lúc này ông Mo, ông Trượng và đội kèn đám ma cũng đó đến.
Ở một số mường, mo và trượng còn nhập vào nhau, một số mường khác đó có sự tách bạch. Mo có Nôổ mo. Trượng có nô Trượng. Xin nhắc lại, trượng là thầy cúng, cúng cho người sống nếu họ bệnh tật, rủi ro. Mo cúng cho người chết, đưa linh hồn người chết đến nơi yên nghỉ.
Như ở mường Vang thì ông Trượng làm lễ” Mở Nài”, túc nược, nhương ăn. Sau lễ này, ông Trượng còn phải làm lễ Tần tịch( Tắt hơi).
+Mở Nài: là mở dây trói hai ngỳn chừn lúc niệm xác.
+Túc nược: là con cháu túc trực bên linh cữu.
+Nhương ăn: là mời hồn ra ngồi ăn cơm với ông Mo, ông Trượng.
+Tần tịch: có thể là ông mo hoặc ông Trượng xướng roóng Khấn Đầu.
QUẠT MA:
Khi ông Trượng xướng roóng khấn đầu, các nàng dâu trong nhà làm lễ Quạt ma. Quạt ma là một điệu múa khoan thai, nhẹ nhàng, tỏ tình yêu quý, xót thương người ra đi. Dâu cả múa trước, các con dâu lần lượt múa theo. Động tác đuổi giống như sóng lượn, hoặc động tác xèo đuôi xèo cánh của con công.
Từ đây ông Mo bắt đầu làm việc của mình.
Trước hết ông Mo roóng mượn mo
Trên đây là công việc ban ngày
Dưới đây là những đêm mo
Tùy theo hoàn cảnh kinh tế và địa vị xã hội của từng gia đình, người ta tổ chức các đêm mo
Đối với người Mường không mo thì không thể mai táng.
Nếu không có tiền của để mo thì phải quấn xác trong nhà
Bao giờ có tiền thì mới phát tang
Mỗi đêm mo thường có: mo chính, mo phụ và chí chuốc.
Mo phụ thay mo chính những lúc mo chính mệt, khản tiếng….Chí chuốc giúp mo điểm cồng, chiêng, trống…trên chuyến đi của mo và hồn.
Sau khi các việc kiện tụng, trả nợ nầm đó xong đoàn chỉ cũn lại: tổ sư mo và hồn dạo chơi thăm thú, tham quan, du lịch…Nhưng dù Chí Chuốc không đi theo đoàn thì đoàn ở đâu cũng biết. Nhất là đoạn đi lên trời.
Tổ sư ông Mo, hồn và ma khiêng vác đến chỗ nghỉ chân thì chí chuốc đánh chiêng trống rộn ràng, tỏ sự vui mừng vì họ hoàn thành chặng đường vất vả khó khăn. Phường cấp là đội kèn, trống, chiêng, cồng của các mường tự động đến giúp tang lễ.
Nếu gia đình nghèo chỉ mượn mo một đêm thì điều cốt tử là hướng dẫn hồn ma đi gặp tổ tiên và thu xếp nơi ăn chốn ở.
Trước đây ông Mo đó mo roóng mượn mo
Mượn được mo ông mo cần mời Tổ sư của ông đưa thần lực, đưa phép thiêng về cho ông. Chỉ có tổ sư của ông Mo về thì mới có thần đưa thần hồn đi thăm viếng, đi đến được những nơi hồn cần phải đến. Nên trước hết ông mo phải mo Dây Nôổ.
Dây Nôổ có nghĩa là thức Nôổ dậy. Nôổ có nghĩa là dòng tổ tiên mo. Dòng mo chín đời thì gọi là Nôổ mo chín đời. Nếu là Nôổ chín đời thì phải bày một mâm cỗ ông mo, mỗi thứ có 9 đơn vị: chín chén, chín bát, chín đũa…
Ông Mo mời các tổ sư về.
Dấy Nôổ xong, ông Mo vẫn chưa đủ phép thiêng bởi phép thiêng còn nằm trong túi Khút.
2. Đẻ Khót, Dờy Khót:
Khót là vật thiêng của ông mo đựng trong chiếc túi. Ông Mo phải thức hồn Khót dậy thì Khót mới thiêng. Bên cạnh vật thiêng Khót, ông mo còn một vật thiêng nữa là Gươm.
3, Đẻ Gươm:
Đến đấy ông mo đó đầy đủ uy lực với ma, đủ phép thiêng để bắt đầu công việc. Việc đầu tiên của ông là:
4. Đạp khăng(còn gọi là Đạp Ma, Châm Pước)
- Đạp ma không phải là dẫm đạp lên con ma hoặc đuổi ma ra khỏi nhà.
Đạp khăng, khăng có nghĩa là Săng- quan tài, cũng không phải là ông Mo đạp vào quan tài.
Sở dĩ phải Đạp Khăng và Châm Pước là vì theo quan niệm về linh hồn của người Mường thì lúc này xác và hồn còn nằm trong quan tài. Quan tài đó đậy nắp cho Người ngủ. Đạp khăng là động tác của ông Mo thức Vía sẽ dậy. Vía nhờ phù phép của tổ sư mo nên chân của Vía sẽ đạp vào phần dưới của Khăng, tay của vía đỡ nắp khăng lên và bước ra. Vía từ nay rời khỏi xác thành hồn ma.
Hồn ma bước ra trong không khí con cháu túc trực mời cơm nước. Hồn ma ngồi ăn cỗ. Lúc này trên bàn thờ có cỗ Ma bên dưới có cỗ tổ sư mo.
Cơm nước xong Tổ sư mo và Hồn ma lên đường sang Mường Ma.
Sang mường ma: tổ sư mo dẫn hồn đi gặp ma ông, ma cố. Hồn được ma ông ma cố nhận hàng, nhân giúp đỡ Hồn sang ấy sẽ ăn nên làm ra.
Tổ sư mo lại dẫn hồn đi gặp Cun lang đất Đống( vua Ma) xin đất, xin ruộng, xin các thứ để làm nhà
Xong mọi việc Tổ sư mo và Hồn về nhà.
Sau “ Nhũm họ, nhũm Mường, nghé nhà, nghé dậu”. Ông Ngài trở về nhà trong tinh thần con cháu đó Tỳc Nược và ông nhắm rượu lai rai chuẩn bị đI Tổ sư mo lên trời.
Đàu tiên đi dến Mường Bi, đoàn dừng lại nhóm Khang Khến, nhóm Dốc Lồ, đi đến tiếp Mường Thàng nhóm vùng Cao Phong. Đoàn đi tiếp đến Ba Thá, Vĩnh Đũng dừng lại nhỡ Khoang ễng, một bến nước quan trọng thuộc sông Bôi. Dừng lại nhìn bến Bùi rồi đi ra sông Đáy, đến chợ bến Đậy, ở đây có đường lên trời. Đoàn đi đến Mường trũi thấp, trú tại nhà ông Lang Chẹo Rẹ, nghỉ lại một thời gian. Tiếp tục lên Mường trời cao leo thang đồng 39 bậc. Chiếc thang này đúc rất công phu. Đồng là do các Mường đó quyên góp. Leo hết thang đồng, Đoàn gặp ông giữ cổng trời. Ông ta kiểm tra Đoàn nếu Đoàn thuộc dòng họ Chín đồng thì cho vào Mường trời. Nếu thuộc dòng họ Chín Ngao thì không cho vì dòng họ này trước đây đó bắn rơi mặt trời. Đến Mường trời đoàn tìm đến nhà Dạ Theng Mư. Bà Dạ Theng Mư là người ở trần gian lên nên bà sẵn sàng giúp đỡ đoàn những gì cần thiết. Đoàn dừng lại nhà bà mượn quần áo và các thứ cần thiết để chuẩn bị qua cầu Liêm La. Hôm sau Đoàn qua cầu Liêm Ma tìm đến nhà Đá Keo Reng cũng ở dưới trần lên và sẵn sàng giúp đỡ việc Đối Kiện về sau.
Về nhà Đá Keo Reng nghỉ, Đoàn đến thăm bà Dạ Theng Mèng( vị thần sinh đẻ) rồi lại trở về nhà Đá Keo Reng. Chơi ở đây Đoàn nảy ra ý định xin Đuông Chim sau này.
Đá Keo Reng dẫn Đoàn vào Đình Trung nhà Trời Đối kiện. Đoàn thắng kiện lại trở về nhà Đá Keo Reng nghỉ. Sau đó đi xin Đuông chuộc số. Xin được Đuông Chim hồn được lắp đôi cánh chim và lắp móng chim vào chân tay. Từ đây hồn đi bay về biến.
Đoàn lại trở về nhà Đá Keo Reng thanh toán tiền nợ ăn nghỉ.
Để có tiền cho Đá Keo Reng hồn phải ra chợ Trời bán cây bông, cây hoa. Khi Keo Reng nhận đủ tiền liền đi sắm quà tặng cho Đoàn. Trong số quà tặng có cái Vỏ dao ngần ngà. Nó thuộc loại vỏ dao quý tặng cho Hồn đem về làm ăn, đi rừng.
Đoàn ra về đi ngược trở lại các chặng đường Mo Lên.
Mo xuống nhanh hơn vì lúc này hồn đó bay đi về biến được.
Khi đoàn sắp về đến nhà, ở nhà đó chuẩn bị sẵn các thứ để xem hồn xin được Đuông gì?
Người ta lấy chiếu trảỉ ra giữa cửa ra vào lên xuống, rắc một lớp tro mỏng. Hồn về phải đi qua đó. Người ta xem trên lớp tro mỏng có dấu tích gì thì biết được hồn xin được Đuông gì.
Để đón hồn về con cháu lại làm lễ: Túc nược và Nhương ăn. Quả nhiên hồn về và in dấu chân lên thảm tro.
Đến đây cả người và hồn đều đó biết hoàn cảnh của Hồn nên đều yên tâm nghe Mo tiêu, kể chuyện kể sự tích. Nghe thỏa thích thì thôi: đẻ đất, đẻ nước, kéo Chu, săn muộng nghe chuyện kể về Văn hiến Mường.
Nghe đủ rồi ngày lưu luyến đó hết, người và hồn chia tay nhau bằng Nhà Xe.
Bữa nhà xe nằm ngoài các đêm mo.
Dù mo một đêm hoặc sáu đêm hoăc lâu hơn nữa cuối cùng phải tổ chức “ bữa nhà xe”, đưa linh cữu ra đồng chôn cất.
Bữa nhà xe chia làm 2 phần do ông Mo đảm nhận, hát bài Mo nhà xe;
Tại những đám tang lớn. Bữa nhà xe được tổ chức trên một cánh đồng màu vào mùa khô.
Trên một khoảng đất rộng, người ta lấy nứa cắm thành một vòng tròn, trừ 4 cửa Đông, tây, nam, bắc các cửa đều trồng hai cây tre thẳng đứng. Trên 2 cây tre có buộc một đòn ngang. Trong vòng tròn làm nhiều nhà. Số nhà nhiều hay ít tùy theo số khách. Một ngày nhộn nhịp mổ trâu, bò, đốt pháo rất đông người tới dự. Ngoài vòng tròn có nhiều hàng quán mở ra bán các thứ thức ăn, đồ uống cho người đến xem. Số người đến phúng được mời vào nhà khách.
Bữa nhà xe là một ngày hội lớn của người Mường. Lễ hội được tiến hành khá dài, theo lời kể thì có hội kéo dài đến 2, 3 ngày.
Sau này yếu tố nghi lễ có giảm bớt nhưng trong lúc kí ức dân gian còn rõ những trò chơi, điệu múa thì âm nhạc trong ngày hội nhà xe.
Bữa tiệc này được coi là sự nuôi nấng cần thiết đối với người chết. Có những tiệc nhà xe giết tới mấy chục trâu, gà, lợn để làm vật hiến tế. Phần ăn được để cho người. Phần không ăn được để cho hồn.
Chôn cất xong có thể là 3 ngày sau hoặc sớm hơn người ta làm lễ Mở cửa mả. Lễ mở cửa mả tổ chức ở ngoài Đống, chỗ ngôi mộ vừa chôn cất. Nhưng trước đó đó làm lễ chia của cho người chết. Lễ này có ông Mo mo roóng Cuối Lại. Tất cả các của đều được đem chia ra: đồ ăn, thức uống, công cụ sản xuất….nhất nhất đều cho hồn.Nhưng hồn chỉ hưởng phần hồn các thứ ấy. Phần xác vẫn được người hưởng. Người ta còn bỏ vào nhà mồ các thứ giấy: vàng, bạc, quần áo, giầy dép….
Lúc đầu tài sản của người chết được chia ra và hủy hoại đi, hoặc đốt theo nhưng về sau người ta cho rằng người chết vẫn còn sống ở một thế giới khác nên cũng rất cần đồ dùng… Hơn thế, với số của ấy người sống cần để lại thết đói họ hàng, bà con tham gia lễ mai táng; Người tham dự có quyền ăn một phần tài sản của người chết để lại.
Cuối cùng là Lễ Đoạn Tang với kì hạn 3 năm. Lễ món tang gồm 2 phần. Phần đầu ông mo cúng, gọi rước vía( hồn) về đoàn tụ với người thân. Phần sau, ông mo “ Vua Dần vái thơi làm cho vui cho buổi lễ.
Sân khấu của chuyến đi là khắp 6 mường:
1. Mường người ( Lang Cun)
2. Mường ma ( pa vỡ quốc mẫu)
3. Mường trời thấp ( Chín Đồng)
4. Mường trời cao ( Vua trời)
5. Mường nước ( Vua Khú)
6. Mường âm phủ ( Pưa đỉn)
Sỏu mường chia làm 4 tầng:
Tầng 1 : Mường người, mường ma
Tàng 2: Mường trời thấp
Tầng 3 : Mường trời cao ( đi đến tận cùng trời)
Tầng 4 : Mường nước, Mường âm phủ
Qua vũ trụ 4 tầng 6 thế giới ấy chúng ta lần lại từng chuyến đi để tìm quan niệm của người Mường về vũ trụ và nhân sinh.
Trước hết phải kể đến Mường người sống ( Mường trần gian). Đây là nơi xuất phát, nơi “ cất cánh” và là nơi “ hạ cánh” cho mỗi chuyến đi. Mỗi chuyến đi cần chuẩn bị và sau mỗi chuyến đi cần nghỉ ngơi.
Chuyến đi thứ nhất hồn đi vào Mường ma. Đi vào Mường ma là chuẩn bị cho cuộc sống vĩnh viễn. Chuẩn bị xong hồn lại tiếp tục cuộc hành trình nhưng cũng là báo cho họ hàng biết để không phải lo lắng.
Chuyến đi thứ 2 đầy gian khổ. Lúc ấy Tổ sư mo đó mượn được ma gánh đồ. Đoàn gồm: Tổ sư mo, hồn, 3 ma gánh đồ. Đoàn xuất phát từ nhà đi đến sông Nước Khoang ông, sông Ma bến Bùi rồi lại trèo thang đồng lên Mường Trời thấp nghỉ lại, tiếp tục qua cầu Liêm La lên Mường trời cao đối kiện, chuộc số, xin Đuông. Có Đuông hồn bay về tận cùng trời xin nước nguồn đem về làm mát mẻ cho mình và cho con cháu. Xin được nước, hồn và Đoàn người trở về Mường trời thấp bán cây bông cây hoa lấy tiền trả nợ và tiêu dùng.Trang trải nợ nần xong đoàn bay thẳng về mường Trần gian. Lúc này ở trần gian chuẩn bị đón đoàn về. Họ lấy chiếu trải ra trước cửa, rắc lên đó một lớp tro mỏng. Hồn về phải đi qua đó. Người xem dấu chân sẽ biết hồn đó xin được Đuông gì ( đó núi trên).
Chuyến đi thứ ba, từ nhà đoàn vượt qua Mường Nước sang Mường Tĩnh Ngục đi chợ Khôông Tỵ đi chợ Quốc Nam, đi chợ chàng Khũ, chàng Kheng sắm đồ. Có người nói ở đây hồn lại phải “ đối kiện” song chúng tôi chưa tìm được roóng mo đối kiện này. Xong việc ở Âm phủ đoàn lại đi thẳng về nhà ( Mường Người) không về qua Mường Nước.
Thế là mội việc gần như xong xuôi êm đẹp chuyến đi thứ tự nhằm đưa hồn đến những miền đất của số phận của cuộc đời.Trước hết Hồn theo Tổ sư mo nghe và thăm di tích lịch sử. Hồn được nghe một lịch sử liên tục từ khi vũ trụ còn hỗn mang, bạc lạc đến khi xây dựng một chế độ lang đạo ổn định trong một quốc gia thống nhất. Rồi những câu chuyện vui( cây đa chơi hội) những câu chuyện bi ai( vườn hoa núi cối)... Tùy theo số thời gian có được, hồn được đi thăm nhiều hay ít. Cuối cùng là chuyến đi thứ năm: từ nhà xe ra đi. Đi mãi vào nơi vĩnh viễn, sống với họ hàng bên ma dưới sự cai quản của vau Đống( cun lang đất Đống).
Mường( Mường Bi)
Giai đoạn một:
Khi có người sắp chết, người nhà gióng 3 hồi chiêng, mỗi hồi 3 tiếng ( chơm chiêng) để báo cho họ hàng biết trước mà tụ tập nhìn mặt người sắp qua đời lần cuối cùng. Khi người đó chết hẳn thì chiêng trống gõ liên hồi. Người chết được tắm rửa bằng nước là bưởi và đặt nằm ở gian giữa, trên lá chiếu và 4 tấm vải trắng. Người ta còn đắp cho người chết một chiếc chăn bông và hàng chục chiếc chăn đơn, và trải hai tấm lụa tơ tằm ở 2 bên. Một người cao tuổi trong họ cầm một hòn than vạch lên sàn và đọc lời bàn giao số vải vóc quần áo cho người chết. Trong khi người nhà mắc màn ở xung quanh chỗ người chết nằm, thì bà con họ hàng, làng xóm đến đầy nhà. Những người thân thì mặc quần áo tang, Người con trai cả tới cửa sổ( nơi thờ cúng tổ tiên), rút dao chặt ba nhát lên thành cửa như để nhác rằng từ nay anh ta là người đảm nhiệm việc thờ cúng tổ tiên.
Sau đó, chiêng trống nổi lên và thân nhân bắt đầu khóc. Người nhà mời thầy mo tới chuẩn bị cho tối mo Tần tịch- tang lễ chính thức bắt đầu. Một thầy mo chính và hai thầy mo phụ làm lễ khẳng định cái chết là một việc đó được số phận sắp đặt, tránh cho người chết sự luyến tiếc băn khoăn khi phải từ bỏ thế giới người sống.
Người thứ hai làm lễ Tống trùng, thầy mo dùng pháp thuật xua đuổi những ma xấu đang lẩn quất bên người chết. Lễ nghi này không được đánh chiêng. Tiếp theo là lễ Tấng dây: cắt sợi dây vải nối chân người chết với một chiếc cọc cắm giữa nhà. Lễ này mang ý nghĩa cắt đứt sự dây dưa, truyền nhiễm bệnh tật sang con cháu. Buổi chiều làm lễ nhập quan( pao khăng) cho ngươi. Một con gà luộc được bày lên bàn thờ để người chết ăn. Quan tài được làm bằng các loại gỗ tốt: cây được ngả trong rừng, cắt dài khoảng 1,9m, xẻ làm đôi, khoét ở giữa rồi mới đưa về nhà. Quan tài đẻ dọc nhà , người nhà đặt chăn, quần áo( phải là số lẻ) vào đó để chôn theo người chết . Lễ nhập quan bắt đầu vào buổi tối, người ta mổ một con lợn nhỏ, luộc rồi thái nhỏ, bày lên lá chuối để lên bàn thờ. Chiêng và trống đánh bài “ túc nược” mời người chết ăn.
Sau đó, thầy mo ca thiên trường ca “đẻ đất đẻ nước”. Thông qua trường ca, mọi người ôn lại cho người chết quá trình hình thành đất nước và con người để thêm lòng tin vào sự trường tồn của đất nước, mà vượt qua tổn thất lớn lao này.
Đêm thứ ba – mo nghỡn họ. Tiếng trống linh hồn dẫn người chết ra nghĩa địa, và thầy mo dẫn người chết đi tìm họ hàng trong giới những người chết.
Ngày thứ tư là ngày đưa người chết ra mộ địa. Đi đầu đám tang là giàn nhạc, đánh những bản nhạc chia tay với người chết. Buổi tối, thầy mo tiếp tục mo những bài thay mặt người chết dặn dò, và lìa bỏ con cháu.
Giai đoạn hai:
Đêm đầu, thầy mo đưa hồn người chết lên gặp lang cun chạo Hẹ (viên quan lo việc sổ sách để người chết lên trời đi kiện).
Đêm thứ hai người chết tiếp tục đi đến nhà Thiêng Mư, mượn áo xem cách dệt vải của người Mường, và lên nhà ông nội (tộ) keo Heng, mượn một số tiền để đi tiếp.
Đêm thứ ba, Mo đi kiện.
Đêm thứ tư, Mo lên trời bên bông lấy tiền trả nợ Keo Heng. Kiện xong Mo xin được xá tội và xin nhập vào sổ ma, xin được cấp phương tiện để đi lại trên trời.
Đêm thứ năm Mo xuống sông Ty(con sông ngăn cách người chết với người sống) sắm sửa đồ đạc.
Đêm thứ sáu, làm lễ tế nhà táng( cao 12 tầng) và nhà xe (3 tầng) ở giữa đồng.Những người tế xếp hàng theo thứ tự: trước tiên là Mo rồi đến ông bà ngoại, 3-4 người đàn bà, các cháu nội ngoại. Con trai đội mũ tlooc, chống gậy, con gái đội mũ nón. Dàn nhạc gồm chiêng trống đánh gióng ba, kốn sáo chơi những bản tang lễ. Tất cả đi quanh nhà xe bảy vòng.
Ngày thứ bảy ( tảng sáng): gọi hồn về (hụôc wêl): Nỗi lưu luyến của người chết đến với vườn tược, nhà cửa, đồng thời chọn đất cắm nhà cho ma. Buổi chiều làm lễ cơn đi (nước ti)-bữa cơm cuối cùng của người chết tại gia đình trước khi về mường của người đó chết.
Theo phong tục ba hôm sau người ta còn làm lễ dẫn đường cho hồn về (là lại wải wềl)-chỉ cho hồn biết nơi thờ cúng và biết lối về. Con cháu ra nghĩa địa xây mộ, chôn vò đựng rượu ở đầu mộ. Đến đây tang ma kết thúc.
Trong thời gian (100 ngày), thân nhân người chết không được tham dự các cuộc vui chơi, nếu buộc phải có mặt thì luôn cúi nhìn xuống đất, mà không được nhìn lên.
Trước kia những gia đình nghèo khó chưa đủ điều kiện để tiến hành ma chay, hoặc nhà giàu có muốn phụ trương thế lực, người ta làm ma khô-bỏ người chết vào quan tài và để nơi thoáng mát trong nhà. Cho đến bao giờ gia đình thấy có thể tổ chức tang lễ được, thì khi đó mời tiến hành nghi thức tang lễ và đem chôn.Ma khô có thể để vài tháng hoặc hàng năm nên xác khô hẳn đi.
Thứ Tư, 16 tháng 12, 2009
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)